Thành ngữ gốc Hán – Ngày ngày viết chữ tuyển chọn và giới thiệu (Phần 2)
| On Th725,2026
(Ngày ngày viết chữ) Thành ngữ gốc Hán là những thành ngữ du nhập vào tiếng Việt, trở thành một bộ phận của tiếng Việt, tuy phạm vi sử dụng có hạn chế, nhưng cũng không hại gì nếu chúng ta biết thêm. Một số thành ngữ còn có tác dụng như một lời răn, một thông điệp tự nhắc nhở. Việc hiểu các thành tố cấu tạo nên những thành ngữ này cũng giúp chúng ta hiểu hơn về từ vựng Hán Việt.
Ngày ngày viết chữ tuyển chọn và giới thiệu một số thành ngữ, hy vọng có thể gợi cho bạn đọc đôi chút cảm hứng với chữ nghĩa.
Loạt bài này được chia làm hai phần, xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt. Phần 2 từ O đến Y, bạn đọc xem ở bài viết này. Để xem lại Phần 1 từ A đến N, bạn đọc xem tại đây.
★ Ôn cố tri tân ★
“Ôn cố tri tân”, chữ Hán là 溫故知新, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “xem cái cũ mà biết cái mới”.
– Chữ “ôn” có nghĩa là xem lại, nhắc lại việc đã qua, là chữ “ôn” ta thường dùng trong ôn bài, ôn tập, văn ôn võ luyện. (Ngoài ra, chữ “ôn” này còn có nghĩa là ấm áp.)
– Chữ “cố” có nghĩa là cũ, như cố nhân (故人) là người quen cũ, cố giao (故交) là bạn cũ, cố hương (故鄉) là quê cũ, nhất kiến như cố (一見如故) là mới gặp mà thấy như bạn cũ.
– Chữ “tri” có nghĩa là biết. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “phàm cái gì thuộc về tâm mình nhận biết, biện biệt, phán đoán, toan tính, ghi nhớ được đều gọi là tri”. Đây là chữ “tri” trong tri thức (知識), vô tri (無知), lương tri (良知).
– Chữ “tân” có nghĩa là mới, mởi mẻ, là chữ “tân” trong cách tân (革新), thanh tân (清新), tối tân (最新). Trước đây ta gọi tin tức, báo chí là tân văn (新聞) như các tờ báo chữ Quốc ngữ thời kỳ đầu là Lục tỉnh tân văn, Phụ nữ tân văn.
Nói chung, “ôn cố tri tân” là một thành ngữ chữ Hán có nghĩa là xem lại cái cũ để biết cái mới, xem lại việc đã qua để từ đó mà lý giải và thấu hiểu điều mới.
Trong bài Tự thán số 26 (Quốc âm thi tập), Nguyễn Trãi viết rằng:
Xét sự đã qua hay sự đến,
Bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh.
Hai câu này ý nói xem xét chuyện đã qua thì ắt hiểu được chuyện sắp đến, theo đó thì biết bao nhiêu chuyện nhục nhã phải chuốc lấy cũng là từ chuyện vinh hiển cả, vinh cũng đó mà nhục cũng đó vậy.
(Xem thêm: “Gặp” ca dao, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi)
★ Quốc tộ diên trường ★
“Quốc tộ diên trường”, chữ Hán là 國祚延長, nghĩa là vận nước lâu dài, vận nước kéo dài.
Chữ “tộ” (祚), Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là phúc, tuổi, vận may của quốc gia. “Quốc tộ” thường được hiểu là vận nước. “Diên trường” nghĩa là kéo dài, lâu dài.
Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn có câu rằng: “Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ” (故國祚延長,風俗富阜), nghĩa là cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu có thịnh vượng.
★ Tẩm thực thi thư ★
“Tẩm thực thi thư”, chữ Hán viết là 寢食詩書, trong đó:
– Tẩm là ngủ, nghỉ;
– Thực là ăn;
– Thi thư ở đây chỉ chung sách vở, cũng chỉ việc học hành.
“Tẩm thực thi thư”, Từ điển Đào Duy Anh giảng là ăn nằm ở nơi sách vở, chỉ người siêng học.
Chữ “tẩm – 寢” ngoài nghĩa là ngủ, nghỉ thì trong các trường hợp khác còn có nghĩa là nhà, chỗ nghỉ ngơi hoặc lăng mộ của nhà vua. Chữ “thực – 食” ngoài nghĩa là ăn (động từ) còn dùng để chỉ đồ ăn (danh từ) và một số nghĩa ít dùng khác nữa. Từ “thi thư – 詩書” cũng dùng để chỉ Kinh Thi và Kinh Thư, hai bộ trong Ngũ Kinh của Trung Hoa.
★ Thâm căn cố đế ★
Thâm căn cố đế, chữ Hán viết là 深根固蒂, trong đó:
– Thâm là sâu, trái với nông như thâm tình (深情) là lòng yêu thương đậm sâu, thâm tâm (深心) là lòng dạ sâu kín.
– Căn là rễ, rễ cây như thụ căn (樹根) là rễ của cây, trúc căn (竹根) là rễ cây trúc. Về sau, “căn” được mở rộng chỉ phần gốc rễ, phần dưới cùng của một thứ gì đó như nha căn (牙根) là chân răng, thiệt căn (舌根) là gốc lưỡi, rồi lại mở rộng thành cơ sở, nền tảng như căn bản (根本), căn nguyên (根源*).
– Cố là bền chắc như kiên cố (堅固), cố chấp (固執). Từ củng cố (鞏固) mà ta đã bàn hôm trước cũng chính là chữ “cố” này.
– Đế là cuống hoa hoặc núm quả, là phần chuyển tiếp giữa thân hoặc cành của cây với hoa hoặc quả. Trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu: Ngọn đèn phòng động đêm xưa / Chùm hoa tịnh đế trơ trơ chưa tàn. “Chùm hoa tịnh đế” ở đây nghĩa là chùm hoa cùng chung một cuống, cùng từ một cuống mọc ra (với “tịnh – 並” nghĩa là chung, gộp lại), thường là một cuống mọc ra hai hoa.
Thành ngữ “thâm căn cố đế” (cũng nói “căn thâm đế cố”) nghĩa đen là rễ cây bám sâu, cuống hoa vững chắc, nghĩa bóng chỉ những gì đã ăn rất sâu, khó lòng thay đổi như thói xấu thâm căn cố đế, quan niệm thâm căn cố đế.
★ Thệ thuỷ niên hoa ★
“Thệ thuỷ niên hoa”, chữ Hán viết là 逝水年華, trong đó:
– “Thệ” là trôi đi, chảy đi, đi qua, đi không trở lại. “Thệ thuỷ” là nước chảy đi.
– “Niên hoa” là tuổi trẻ, cũng chỉ năm tháng thời gian.
“Thệ thuỷ niên hoa” nghĩa là tuổi trẻ hoặc năm tháng đi không trở lại, ví như dòng nước chảy xuôi, qua rồi không quay lại nữa.
★ Trí viên hạnh phương ★
“Trí viên hạnh phương”, chữ Hán là 智圓行方, trong đó:
– “Trí” là khôn, hiểu biết, hiểu thấu sự lý, ta thường nói tài trí (才智), đa mưu túc trí (多謀足智), trí lực (智力).
– “Viên” là tròn, tròn trĩnh, không góc cạnh, cũng có nghĩa là đầy đủ. Tiếng nhà Phật có từ viên thông (圓通) nghĩa là hiểu thấu suốt hết lẽ đạo một cách toàn vẹn.
– “Hạnh” là cái nết tốt. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “hạnh” là cái nết na, nết na còn ở tâm là đức 德, thi hành ra là hạnh 行. Đây là chữ hạnh trong hạnh kiểm (行檢), khổ hạnh (苦行), phẩm hạnh (品行), tiết hạnh (節行). Xin phân biệt chữ hạnh này với chữ hạnh (幸) nghĩa là may mắn, phúc lành (hạnh phúc 幸福, hân hạnh 欣幸); chữ hạnh (杏) là tên loài cây (ngân hạnh 銀杏).
– “Phương” là vuông vức, là ngay thẳng. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “vật gì hình thể ngay thẳng đều gọi là phương, người nào tính hạnh ngay thẳng gọi là phương chánh 方正”. (Chữ phương 方 còn có nghĩa là nơi, chốn, như viễn phương 遠方 là nơi xa; ngoài ra chữ phương 方 còn một số nghĩa khác nữa.)
Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “trí viên hạnh phương” là phần tri thức thì cốt cho viên thông, phần phẩm hạnh thì cốt cho phương chính. Viên thì không câu trệ, phương thì không chếch lệch. “Trí viên hạnh phương”, có thể hiểu là tri thức của mình thì nỗ lực đạt đến sự tròn trịa, còn phẩm hạnh của mình thì phải giữ cho ngay ngắn.
★ Vân vụ kiến thiên ★
Hôm nọ có bạn hỏi mình rằng có thành ngữ nào mang ý nghĩa tựa tựa như “sau cơn mưa trời lại sáng”, hoặc là kiểu “thấy được ánh sáng cuối đường hầm” không, nên mình giới thiệu với mọi người thành ngữ “vân vụ kiến thiên” nha. Chữ Hán là 雲霧見天.
“Vân” là mây, “vụ” là sương mù. Xa đất là “vân”, gần đất là “vụ”, “vân vụ” là mây mù, ở đây chỉ tình cảnh tối tăm mờ mịt.
“Vân vụ kiến thiên”, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là giữa đám mây mù thình lình thấy được trời xanh, nghĩa bóng là giữa lúc tối tăm mừng thấy được tia sáng.
___________
*Sẽ còn cập nhật.

