“Gặp” ca dao, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Phần 2)
| On Th730,2026
(Ngày ngày viết chữ) Ở Phần 1, chúng ta đã bàn về việc khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có nhiều câu thơ (của nhiều bài khác nhau) gợi cho chúng tôi nhớ tới một số câu ca dao, tục ngữ của dân tộc. Bài viết này chúng ta tiếp tục bàn về những câu thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi có sức gợi nhớ đến ca dao, tục ngữ. Dựa vào đây chúng ta cũng có thể phần nào hiểu được vì sao lời thơ Nguyễn Trãi cũng là tiếng nói dân tộc.
Nguồn tài liệu tham khảo của bài viết này chủ yếu vẫn là quyển Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm – Khảo cứu văn bản học so sánh của Kiều Thu Hoạch (NXB Khoa học và Xã hội, 2022).
Để tiện theo dõi, chúng ta cùng điểm lại tổng quan nội dung Quốc âm thi tập:
| Tập thơ gồm các phần: 1. Phần vô đề, gồm các bài: – Thủ vĩ ngâm (1 bài); – Ngôn chí (21 bài); – Mạn thuật (14 bài); – Trần tình (9 bài); – Thuật hứng (25 bài); – Tự thán (41 bài); – Tự thuật (11 bài); – Tức sự (4 bài); – Tự giới (1 bài); – Bảo kính cảnh giới (61 bài); – Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác (1 bài); – Giới sắc (1 bài); – Giới nộ (1 bài); – Huấn nam tử (1 bài). 2. Phần Thời lệnh môn là thơ về thời tiết bốn mùa gồm 21 bài, trong đó có 13 bài Tích cảnh thi. 3. Phần Hoa mộc môn là thơ về cây và hoa gồm 34 bài. 4. Phần Cầm thú môn là thơ về chim và thú gồm 7 bài. Trong phần 2, 3 và 4 mỗi bài đều có tên riêng. |
Dưới đây là nội dung Phần 2. Phần 1 bạn có thể xem lại TẠI ĐÂY.
Tự thán bài 2 Nguyễn Trãi viết:
Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt,
Túi thơ chứa hết mọi giang san.
“Thừa chỉ” là chức quan của Nguyễn Trãi khi vào Thanh Hoá theo Lê Lợi, được Lê Lợi cho chức Tuyên phụng Đại phu, Hàn lâm viện Thừa chỉ. Hai câu thơ trên ý nói ai bảo ta làm chức Thừa chỉ là nghèo khó, ta vẫn luôn giàu có vì trong túi thơ của ta chứa cả non sông.
Ca dao thì có câu rằng:
Ai ơi trời chẳng trao quyền,
Túi thơ đủng đỉnh dạo miền thú quê.
Câu ca dao này tuy không có cùng ý nghĩa với hai câu thơ trên của Nguyễn Trãi, song vẫn là tâm thế có túi thơ là đã đủ đầy, có thể dựa vào đó mà vui thú ở đời.
Tự thán bài 7 mở đầu bằng hai câu:
Giàu chẳng kịp khó còn bằng,
Danh lợi lòng đà ắt dửng dưng.
Hai câu này ý nói giàu thì ta chẳng theo kịp ai, nhưng khó thì cũng bằng người ta đấy. Song, đối với danh lợi, lòng ta đã dửng dưng.
Ca dao cũng có câu phù hợp với ý nghĩa của câu Giàu chẳng kịp khó còn bằng, đó là:
Thắp đuốc tìm giàu giàu chẳng thấy,
Cầm gươm chém khó, khó theo sau.
Tự thán bài 23 có câu:
Đạo này để trong trời đất,
Nghĩa ấy bền chưng đá vàng.
“Đạo” ở đây là đạo thánh hiền, rộng khắp đất trời. “Nghĩa” ở đây là nghĩa vua tôi, bền vững như đá vàng. Trong ca dao, “đá vàng” thường được dùng để chỉ duyên đôi lứa bền chặt. Song trong thơ của Nho gia, đá vàng cũng dùng để chỉ nghĩa vua tôi quân thần, hoặc lòng sắt son với cái đạo mà mình theo. Như Nguyễn Đình Chiểu trong Dương Từ – Hà Mậu có viết rằng:
Giữ lòng kim thạch cho bền,
Chớ nghe lời tục, mà quên đạo mình.
“Kim thạch” tức là “đá vàng”, còn “đạo” ở đây lại là đạo Phật.
Ca dao, như đã nói thường dùng “đá vàng” để nói chuyện lứa đôi, thì có câu:
Chữ rằng: Quân tử tạo đoan,
Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm.
“Quân tử tạo đoan” (君子造端) là từ ngữ xuất phát từ Trung dung, ý chỉ đạo lớn của người quân tử bắt đầu (tạo đoan) từ việc căn cơ nhất là đời sống vợ chồng. Đây là nhân tố cốt lõi để từ đó gây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp khác, do đó mà nói Vợ chồng là nghĩa đá vàng trăm năm.
Tự thán bài 26 viết rằng:
Há chẳng biến dời cùng thế thái,
Những âu tư túi có thần minh.
“Tư túi” có nghĩa là giúp đỡ thầm kín, cũng có nghĩa là lén lút giúp ngầm mưu lợi riêng. Từ này hiện nay vẫn còn dùng trong những ngữ cảnh liên quan đến nạn tham ô, như “tư túi tiền công quỹ”.
Ca dao có câu:
Chẳng tư túi chẳng trăng hoa,
Cớ sao lại thiết việc nhà người dưng.
Câu Những âu tư túi có thần minh ý là chỉ biết lo tư túi thì sẽ có thần minh soi xét. Câu này liên quan đến tư tưởng “thận độc” (慎獨). Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “cẩn thận ở lúc một mình, tức là cẩn thận ở chỗ tâm thuật”; Đại tự điển Hán-Việt của Trần Văn Chánh giảng là “dè chừng lúc ở một mình”. “Thận độc” về cơ bản có nghĩa là kể cả khi ở một mình cũng phải giữ gìn hành vi, lời nói, suy nghĩ, kể cả khi xung quanh không có ai, kể cả khi không ai biết cũng phải tự mình giữ lấy giáo dưỡng. Đây là một sự tu dưỡng của bậc quân tử.
Cũng trong Tự thán bài 26 còn có câu này đúc kết thế sự rất đỗi sâu sắc, rằng:
Xét sự đã qua hay sự đến,
Bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh.
Hai câu này ý nói xem xét chuyện đã qua thì ắt hiểu được chuyện sắp đến, theo đó thì biết bao nhiêu chuyện nhục nhã chuốc lấy cũng từ chuyện vinh hiển, vinh đó mà nhục cũng đó, cũng như câu tục ngữ Người có lúc vinh lúc nhục, Nước có lúc đục lúc trong. Câu Xét sự đã qua hay sự đến còn gợi nhớ đến câu thành ngữ chữ Hán “Ôn cố tri tân” (溫故知新).
Tự thán bài 36 Nguyễn Trãi viết:
Nào ai dễ có lòng chân thật,
Ở thế tin chi miệng đãi buôi.
“Đãi buôi”, hiện nay cũng hay dùng “đãi bôi”, chỉ tính người chỉ niềm nở bề ngoài chứ không thật tình. Hai câu này ý nói con người chẳng có mấy ai có lòng chân thật, nên sống ở đời thì chớ tin làm chi những kẻ chỉ nói đãi buôi.
Ca dao có câu:
Nói đãi buôi cho xuôi lòng bạn,
Kẻo sông giang hồ, khúc cạn khúc sâu.
Cũng trong Tự thán bài 36, Nguyễn Trãi viết:
Khong khảy kẻ cười cùng kẻ thốt,
Khó khăn người dể lẫn người duôi.
“Khong khảy” nghĩa là thong dong, thoải mái, đầy đủ, sung túc không lo toan. “Dể duôi” nghĩa là xem thường, khinh miệt, khinh khi, ta hay nói “khi dể” (thường viết thành “khi dễ”). Hai câu này ý nói khi mình phong lưu sung túc thì nhiều kẻ cười cười nói nói cùng mình, gặp lúc khó khăn hoạn nạn thì người ta khinh khi coi nhẹ.
Tục ngữ có câu cùng ý như thế là: Giàu sang lắm kẻ tới nhà, Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau hoặc Giàu sang lắm kẻ đến nhà, Đến khi rách rưới chẳng ma nào nhìn. Tình cảnh này cũng gợi nhớ đến câu Khó khăn thì chẳng ai nhìn, Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên đã đề cập ở Phần 1 của loạt bài này.
Tự thán bài 41 Nguyễn Trãi viết rằng:
Tích đức cho con hơn tích của,
Đua lành cùng thế mựa đua khôn.
“Mựa” nghĩa là đừng, chớ. Hai câu này ý nói cha mẹ nên chú trọng đạo đức hơn là chú trọng chăm lo của cải vật chất cho con cái, ở đời thì nên tích cực làm điều thiện điều lành, hơn là tranh đua thói tinh khôn ranh mãnh.
Hai câu thơ này gợi nhớ đến hai câu ca dao:
Cha mẹ để của bằng non,
Không bằng để đức cho con ở đời.
và:
Cây xanh thì lá cũng xanh,
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
Tự thuật bài 1 có câu:
Nước kiến phong quang hầu mấy kiếp,
Rừng nho nấn ná miễn qua ngày.
“Nước kiến” ở đây chỉ tích mộng Nam Kha, hay cũng thường được biết với tên giấc mộng hoè, thường dùng để chỉ cuộc đời chỉ là hư ảo. Do trong mộng, Thuần Vu Phần thấy được vua ban cho làm thái thú, tỉnh giấc thấy bên cạnh chỉ có một con kiến chúa, nhà vua trong mộng hoá ra chỉ là con kiến chúa ấy nên mới có từ “nước kiến”. Câu Nước kiến phong quang hầu mấy kiếp ý nói cảnh phú quý tươi đẹp như ở nước kiến thì được mấy kiếp đâu.
Tục ngữ có câu Giàu chiều hôm, khó sớm mai hoặc Giàu đầu hôm, khó sớm mai; Giàu giờ ngọ, khó giờ mùi để chỉ cuộc đời dễ thay đổi, giàu có rồi lại sa sút trong phút chốc, tất cả đều là hư ảo.
Còn câu Rừng nho nấn ná miễn qua ngày lại thể hiện một tâm trạng khác của Nguyễn Trãi, đó là cố nán ở rừng nho, lần hồi miễn sao qua ngày là được. “Rừng nho” tức nho lâm (儒林), chỉ chung người theo Nho học, ca dao có câu:
Rừng nho biển thánh khôn dò,
Nhỏ mà không học lớn mò sao ra.
Câu ca dao này so với câu thơ của Nguyễn Trãi thì tích cực hơn, khuyến khích tính hiếu tri từ sớm.
Tự thuật bài 5 Nguyễn Trãi viết hai câu thực rằng:
Ngọc lành nào có tơ vện,
Vàng thật âu chi lửa thiêu.
“Tơ vện” là những đường vằn, ta thường nói vằn vện, là những vết thường không đẹp trên một vật. Có câu “ngọc lành có vết” để chỉ viên ngọc tốt nhưng có chút khuyết điểm. Thành ngữ chữ Hán có câu “bạch ngọc vi hà” (白玉微瑕) cũng mang ý nghĩa tương tự. Chữ “hà” (瑕) chuyên dùng để chỉ tì vết trên viên ngọc.
Câu Vàng thật âu chi lửa thiêu (vàng thật thì lo gì bị lửa thiêu) gợi nhớ câu ca dao:
Thật vàng chẳng phải thau đâu,
Đừng đem thử lửa cho đau lòng vàng.
Câu bát còn có dị bản là Xin đừng thử lửa mà đau lòng vàng. Song câu ca dao này cho thấy tâm thế khác, “vàng thật” vì bị ngờ (thiết nghĩ bị ngờ vì “vàng thau lẫn lộn”) nên bị đem đi thử lửa, và điều đó khiến cho “vàng” cảm thấy “đau lòng”. Còn câu của Nguyễn Trãi gợi đến cái khí khái Lửa thử vàng gian nan thử sức, hay còn một câu cũng rất hợp là Vàng thật (thì) không sợ lửa.
Tự thuật bài 7 có câu rằng:
Lồng chim ao cá từ làm khách,
Ngòi nguyệt ngàn mai phụ lệ nhà.
Chim trong lồng, cá trong ao, ta cũng thường nói Cá chậu chim lồng để chỉ tình cảnh thiếu tự do, bị hạn chế, ràng buộc, phụ thuộc. Lồng chim ao cá từ làm khách ý nói kể từ khi ra làm quan ắt phải chịu cảnh ràng buộc, hạn chế. “Ngòi nguyệt ngàn mai” là trăng trên ngòi nước và rừng mai (Côn Sơn). Ngòi nguyệt ngàn mai phụ lệ nhà ý nói cảnh quê tao nhã thanh bình của quê nhà ấy đành để lại phía sau, không thể theo cái lệ ẩn dật của gia đình nữa.
Ý thơ ở đây làm gợi nhớ câu ca dao:
Sá bao cá chậu chim lồng,
Hễ người quân tử cố cùng mới nên.
Tự thuật bài 10 mở đầu bằng hai câu:
Danh chăng chác lộc chăng cầu,
Được ắt chẳng mừng mất chẳng âu.
“Chác” nghĩa cũng như “chuốc”, tức là chịu lấy, mua lấy, ta thường nói “bán chác”, “đổi chác”, “kiếm chác”, “chia chác”. Hai câu thơ ý nói danh và lộc đều không cầu, không mong có nên nếu có được thì chẳng thấy mừng mà nếu mất thì cũng chẳng lấy làm lo lắng. Hai câu này gợi liên tưởng đến những câu ca dao:
Mặc ai chuốc lợi mua danh,
Riêng ta học được đạo lành là hơn.
Hoặc là:
Mặc ai chuốc lợi mua danh,
Miễn ta học đặng đạo lành thì thôi.
Tức sự bài 2 kết bằng hai câu:
Ai thấy rằng cười là thế thái,
Ghê thay biến bạc làm đen.
“Thế thái” (世態) tức là thói đời. Ai thấy rằng cười là thế thái tức là ai thấy việc ta làm mà cười thì ấy cũng bình thường thôi, chỉ là thói đời hay như vậy. Bài này mở đầu bằng câu Lấy biêu phú quý đổi biêu hèn, tức là lấy cái phú quý để đổi lấy cái nghèo hèn nên mới có người cười chê. Tục ngữ có câu Ai chê cũng mặc, ai cười mặc ai, hoặc Cười ba tháng không ai cười ba năm; Cười người ba tháng, ai cười ba năm.
Câu Ghê thay biến bạc làm đen ý nói (ta không sợ người ta cười ta đổi giàu lấy nghèo) ta chỉ ghê thay kẻ đổi bạc ra đen. “Biến bạc làm đen” cũng tương tự như câu Đổi trắng thay đen mà hiện nay ta vẫn hay nói.
Hai câu thơ này còn gợi nhớ đến câu ca dao:
Ngửa tay để tấm vàng mười,
Quần bô áo vải ai cười mặc ai.
Phần 2 của loạt bài “Gặp” ca dao, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi xin khép lại ở đây. Chúng tôi sẽ tiếp tục biên Phần 3 trong thời gian tới.

