Thành ngữ gốc Hán – Ngày ngày viết chữ tuyển chọn và giới thiệu (Phần 1)
| On Th409,2025
(Ngày ngày viết chữ) Thành ngữ gốc Hán là những thành ngữ du nhập vào tiếng Việt, trở thành một bộ phận của tiếng Việt, tuy phạm vi sử dụng có hạn chế, nhưng cũng không hại gì nếu chúng ta biết thêm. Một số thành ngữ còn có tác dụng như một lời răn, một thông điệp tự nhắc nhở. Việc hiểu các thành tố cấu tạo nên những thành ngữ này cũng giúp chúng ta hiểu hơn về từ vựng Hán Việt.
Ngày ngày viết chữ tuyển chọn và giới thiệu một số thành ngữ, hy vọng có thể gợi cho bạn đọc đôi chút cảm hứng với chữ nghĩa.
Loạt bài này được chia làm hai phần, xếp theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt. Phần 1 từ A đến N, bạn đọc xem ở bài viết này. Phần 2 từ O đến Y, bạn đọc xem tại đây.
★ An cư lự nguy ★
“An cư lự nguy”, chữ Hán là 安居慮危, nghĩa là lúc yên ổn phải lo nghĩ phòng lúc khó khăn, hiểm nghèo.
– “An cư” nghĩa là ở yên, sống yên ổn, không có gì phải bận tâm lo nghĩ. Ta thường nói “an cư lạc nghiệp” (安居樂業), vốn chỉ thời thế thái bình, ai cũng yên chỗ ở, ai đều có chức nghiệp nấy (Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh).
– “Lự” là lo, nghĩ, lo liệu, toan liệu, suy xét, cân nhắc. Là chữ “lự” trong tư lự (思慮), lưỡng lự (兩慮).
– “Nguy” là từ trái nghĩa của an (ta hay dùng tổ hợp “an nguy”), thường chỉ việc gì không vững vàng, hiểm hóc, dễ gặp tổn hại. Chữ “nguy” này còn có nghĩa là cao, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “ở nơi cao mà ghê sợ gọi là nguy”. Đây là chữ “nguy” trong nguy cấp (危急), nguy nan (危難), nguy hiểm (危險).
Một câu khác cũng tương tự là “an cư tư nguy” (居安思危), chữ “tư” có nghĩa là nghĩ, nghĩ ngợi.
Cùng ý này, tục ngữ Việt Nam có câu “Làm khi lành, để dành khi đau”, đại ý là lúc khoẻ mạnh thì phải lo làm ăn, dành dụm, phòng khi đau ốm.
★ Âu lộ vong cơ ★
“Âu lộ vong cơ”, chữ Hán viết là 鷗鷺忘機, trong đó:
– “Âu” là một thứ chim nước, đầu to mỏ cứng, tức hải âu hay cò bể.
– “Lộ” là con cò.
– Chữ “cơ” 機 có nhiều nghĩa, ở đây nghĩa là dục vọng, lòng trần tục. “Vong cơ” là quên hết lòng trần tục, quên hết dục vọng.
“Âu lộ vong cơ”, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là ở ẩn, làm bạn với con âu con cò mà quên việc đời. Nói chung đây là thành ngữ chỉ việc ở ẩn. Người ta cũng dùng riêng “âu lộ” để chỉ người ở ẩn, nhàn cư, giống như con âu con cò thơ thẩn ven sông ven biển.
Phạm Quý Thích có bài thơ Thu giang ngẫu hứng, trong đó có dùng hình ảnh “âu lộ” rằng:
Chúng thuỷ đông quy nhật dạ lưu,
Giang đinh âu lộ tự vong ưu.
Khả liên ba lãng tương tuỳ trục,
Tài đáo thu lai tận bạch đầu.
眾水東歸日夜流,
江汀鷗鷺自忘憂。
可憐波浪相隨逐,
纔到秋來盡白頭。
Tạm dịch:
Đêm ngày nước chảy về đông,
Chim cò thong thả bãi sông quên sầu.
Chỉ thương sóng mải đuổi nhau,
Thu kia vừa đến cả đầu bạc phơ.
★ Bạch ngọc vi hà ★
“Bạch ngọc vi hà”, chữ Hán viết là 白玉微瑕, nghĩa là viên ngọc trắng nhưng có tì vết nhỏ, thành ngữ này dùng để chỉ người hoặc việc gì rất tốt đẹp nhưng có khuyết điểm nhỏ.
Chữ “hà” (瑕) này chuyên dùng để chỉ tì vết trên viên ngọc, mở rộng để chỉ khiếm khuyết của người, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (từ đây trở đi gọi là Tự điển Thiều Chửu) giảng điều lầm lỗi của người ta gọi là “hà tì” (瑕疵).
★ Cách cố đỉnh tân ★
“Cách cố đỉnh tân”, chữ Hán viết là 革故鼎新, nghĩa là bỏ cũ dựng mới, bỏ cũ làm nên cái mới.
– “Cách” là thay đổi, bãi bỏ (như cách chức, cách mạng, cải cách,…). Chữ “cách” này nguyên nghĩa là da thú đã thuộc, sau mới dùng với ý nghĩa là “thay đổi”.
– “Cố” là cũ (như cố hương, cố hữu – 故有 – cái vốn có, cố hữu – 故友 – bạn cũ, cố nhân, cố quốc,…).
– “Đỉnh” vốn là một dụng cụ bằng kim loại, có ba chân, xưa dùng để nấu ăn, thường là nấu cho người nhiều người ăn, là vật báu lưu truyền của các quốc gia xưa, nên lấy được thiên hạ thì gọi là “định đỉnh”.
“Đỉnh tân” trong thành ngữ này hiểu là lập nên cái mới, dựng lên cái mới. “Cách cố đỉnh tân” xưa dùng để chỉ sửa đổi triều chính hoặc thay đổi triều đại, về sau dùng để chỉ việc bỏ cũ dựng mới nói chung.
★ Canh huyền dịch triệt ★
“Canh huyền dịch triệt”, chữ Hán viết là 更弦易轍, nghĩa là thay đổi hành vi, phương pháp làm một việc gì.
– “Canh” là thay đổi, như canh tân 更新 là đổi mới, canh y 更衣 là thay áo.
– “Huyền” là dây đàn, như độc huyền cầm 獨弦琴 là đàn chỉ có một dây (tức đàn bầu của ta).
– “Dịch” cũng là thay đổi, như biến dịch 變易, di dịch 移易, di phong dịch tục 移風易俗 – thay đổi phong tục sẵn có bằng nếp sống và thói quen mới.
– “Triệt” là vết bánh xe, có câu phục đạo tiền triệt 復蹈前轍 nghĩa là giẫm lên vết bánh xe đi trước, ngụ ý phạm phải cùng lỗi lầm của người đi trước.
“Canh huyền dịch triệt”, Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh (từ đây trở đi gọi là Từ điển Đào Duy Anh) giảng là đánh đàn lâu thì phải thay dây, đi đường lâu thì phải thay bánh xe. Thành ngữ này được dùng để tỉ dụ việc thay đổi hành vi hoặc phương pháp làm việc nhằm tiến bộ hơn.
★ Chính bản thanh nguyên ★
“Chính bản thanh nguyên”, chữ Hán viết là 正本清源, trong đó:
– “Bản” là gốc cây, mở rộng nghĩa chỉ những gì là gốc, là cái vốn dĩ, cái mới đầu, là chữ “bản” trong “căn bản”, “bản thể”, “bản sắc”,…
– “Nguyên” là nguồn nước, như “ẩm thuỷ tư nguyên” (飲水思源) là uống nước nhớ nguồn.
– “Chính” là làm cho thẳng, “thanh” là làm cho trong.
“Chính bản thanh nguyên”, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “sửa gốc cho thẳng thì ngọn tất thẳng, làm nguồn cho trong thì dòng nước tất trong”.
★ Cô nguyệt huyền trung ★
“Cô nguyệt huyền trung”, chữ Hán viết là 孤月懸中, nghĩa là mặt trăng lớn tròn đứng một mình, chung quanh không có sao nhỏ.
– Cô là một mình, là chữ cô trong cô độc (孤獨).
– Huyền là treo, treo lơ lửng. Trong sách Cổ mỹ từ, Ngày ngày viết chữ cũng có nhắc tới chữ “huyền” này trong từ “đảo huyền” (倒懸), nghĩa đen là treo ngược lên, người hoặc vật mà bị treo ngược lên, treo cho chúc đầu xuống thì gọi là đảo huyền. Từ điển Đào Duy Anh giảng nghĩa bóng của đảo huyền là “khổ sở đến cực điểm”.
“Cô nguyệt huyền trung” là mặt trăng treo lơ lửng, đứng một mình trong không trung, ngụ ý chỉ văn tài xuất chúng, nổi bật giữa trời, không ai sánh cùng.
★ Đa ngôn đa quá ★
“Đa ngôn đa quá”, chữ Hán là 多言多過, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là “nhiều lời thì càng nhiều lầm lỗi”.
– Chữ “ngôn” nghĩa là nói, lời nói. Hầu hết chữ “ngôn” mà hiện nay chúng ta hay dùng đều là chữ “ngôn” này, như ngôn ngữ 言語, ngôn luận 言論, phát ngôn 發言, ngụ ngôn 寓言, v.v.. “Đa ngôn” Đào Duy Anh giảng là hay nói, nhiều lời.
– Chữ “quá” có nhiều nghĩa, thường gặp nhất là các nghĩa qua, trải qua, đã qua, từng, vượt quá (như trong các từ quá khứ 過去, quá hạn 過限, quá trình 過程, quá vãng 過往, thái quá 太過, v.v.). Chữ “quá” còn có nghĩa là lỗi, lầm lỗi – chính là nghĩa trong câu “đa ngôn đa quá” này. Truyện Kiều đoạn Kiều báo ân báo oán có câu: Đã lòng tri quá thì nên / Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay, “tri quá” (知過) nghĩa là biết lỗi. Ngoài ra chữ “quá” còn có một số nghĩa khác nữa.
Cùng ý nghĩa với “đa ngôn đa quá”, ông bà ta còn có câu “Năng ăn hay đói, năng nói hay nhầm” và “Hương năng thắp năng khói, người năng nói năng lỗi”.
★ Đào lý tân âm ★
“Đào lý tân âm”, chữ Hán viết là 桃李新陰, trong đó:
– “Đào lý” nghĩa đen là cây đào và cây lý/cây mận, hai thứ cây trồng tốt, mùa hạ được bóng mát, mùa đông được ăn trái. Người xưa dùng “đào lý” để ví người học trò, người tài giỏi nói chung.
– “Tân” là mới, “âm” là bóng râm, bóng mát.
Từ điển Đào Duy Anh giảng “đào lý tân âm” là thành ngữ dùng để chỉ lớp nhân tài mới, ngụ ý cửa thầy nhiều học trò giỏi, lớp “đào lý” sau nối tiếp lớp “đào lý” trước, không ngừng cho bóng mát.
★ Điểm kim thành thiết ★
“Điểm kim thành thiết”, chữ Hán viết là 點金成鐵, nghĩa là chấm vào (điểm) vàng (kim) mà lại hoá ra thành sắt (thiết).
Thành ngữ này dùng để nói văn chương vốn hay nhưng bị sửa lại mà thành ra dở, chuyện vốn tốt mà nhúng tay vào thành ra xấu.
Từ điển Đào Duy Anh giảng “nguyên văn vẫn hay vì sửa lại mà thành ra dốt, nguyên chất vẫn tốt mà uốn dẻo lại thành ra xấu”. Ngược lại của “điểm kim thành thiết” là “điểm thiết thành kim” hoặc “điểm thạch thành kim”, tức là chấm vào sắt, đá mà hoá ra vàng, cái đang dở nhờ được sửa lại mà thành ra hay.
★ Khúc chung tấu nhã ★
“Khúc chung tấu nhã”, chữ Hán viết là 曲終奏雅, trong đó:
– “Khúc” là bài hát, bài nhạc;
– “Chung” là sau cùng, cuối cùng, hết, kết thúc;
– “Tấu” là chơi nhạc, cử nhạc;
– “Nhã” là hay, tốt đẹp, đẹp đẽ.
“Khúc chung tấu nhã” là bài hát, bài nhạc đến đoạn cuối lại được hát, được chơi hay hơn, nghĩa bóng chỉ chuyện có kết thúc tốt đẹp.
★ Nha sào sinh phụng ★
“Nha sào sinh phụng”, chữ Hán viết là 鴉巢生鳳, trong đó:
– “Nha” là con quạ, con quạ khoang. Truyện Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự có câu: “Ngàn non ngậm kín bóng tà, Lá cây xào xạc, chiếc nha điểm sầu”. Từ điển Nguyễn Quốc Hùng giảng “chiếc nha điểm sầu” là: Con quạ có sắc đen như một chấm mực nó điểm vào nơi phong cảnh buổi chiều, khi bóng tà dương đã khuất núi, thêm một điểm buồn rầu.
– “Sào” là cái tổ chim, như “yến sào” là tổ yến.
– “Sinh” là đẻ ra.
– “Phụng” là chim phụng, hay chim phượng, người xưa quan niệm chim phượng là điềm có đế vương.
“Nha sào sinh phụng” là tổ quạ mà sinh ra chim phượng, nghĩa bóng chỉ nhà bần tiện mà sinh được con giỏi.
★ Nhân sinh triêu lộ ★
“Nhân sinh triêu lộ”, chữ Hán viết là 人生朝露, trong đó:
– Nhân sinh là đời người;
– Triêu là buổi sớm, buổi ban mai;
– Lộ là hạt móc, cũng gọi là giọt cởi, là kiểu sương đọng thành giọt, Từ điển Đào Duy Anh giảng lộ là hơi nước ban đêm gặp lạnh mà kết thành hạt nhỏ.
“Nhân sinh triêu lộ” nghĩa là đời người ngắn ngủi, như hạt móc buổi mai, mặt trời mọc là tan ngay.
★ Nhật mộ đồ viễn ★
“Nhật mộ đồ viễn”, chữ Hán viết là 日暮途遠.
– “Mộ” là chiều tối, Tự điển Thiều Chửu giảng “lúc mặt trời sắp lặn gọi là mộ”. “Nhật mộ” là trời tối, ngày đã đến lúc tối.
– “Đồ” là con đường, đường đi, như “tiền đồ” (前途) là con đường phía trước, chỉ tương lai. “Đồ viễn” là đường còn xa.
“Nhật mộ đồ viễn” là trời tối mà đường còn xa. Ý nói thì giờ đã sắp hết mà công việc còn lâu dài lắm.
★ Nhật xuất nhi tác, nhật nhập nhi chỉ ★
“Nhật xuất nhi tác, nhật nhập nhi chỉ”, chữ Hán viết là 日出而作,日入而止, trong đó:
– “Nhật xuất” là mặt trời mọc, “nhật nhập” là mặt trời lặn.
– “Nhi” là mà, và, bèn, thì, liền,… Chữ “nhi” này nghĩa thường gặp nhất là “mà”, dùng để chuyển ý, như bất mưu nhi hợp (不謀而合) là không toan liệu trước mà hành vi, ý kiến tương thích với nhau. Trong “Nhật xuất nhi tác, nhật nhập nhi chỉ” thì “nhi” là thì, liền, bèn, tương tự kiến cơ nhi tác (見幾而作) nghĩa là thấy thời cơ thì làm ngay.
– “Tác” là làm, làm nên, gây ra, như hợp tác (合作) là cùng nhau làm, tác nghiệt (作孽) là gây ra điều ác.
– “Chỉ” là dừng, thôi, như đình chỉ (停止) là ngừng, thôi, không làm nữa.
Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng “Nhật xuất nhi tác” là mặt trời mọc thì làm, làm việc rất sớm, còn “Nhật nhập nhi chỉ” là mặt trời lặn thì thôi làm việc. Hai câu này khi kết hợp tạo ra cảm giác siêng năng, chăm chỉ nhưng điều độ, có chừng mực.
★ Ngộ ngã lương bằng ★
“Ngộ ngã lương bằng”, chữ Hán viết là 遇我良朋, Từ điển Đào Duy Anh giảng thành ngữ này có nghĩa là gặp được người bạn tốt của ta.
– “Ngộ” là gặp gỡ, thường gặp trong các từ hạnh ngộ, hội ngộ, kỳ ngộ, tao ngộ, tri ngộ, tương ngộ,…
– “Ngã” là tôi, ta, mình, như bản ngã, duy ngã, vô ngã,…
– “Lương” là tốt, hiền lành, như lương duyên, lương tâm, lương thiện, lương tri, lương y,…
– “Bằng” là bạn bè, những người giống nhau cùng chơi với nhau gọi là “bằng”, như bằng hữu, bằng môn, bằng liêu,… “Lương bằng” nghĩa là bạn tốt.
“Ngộ ngã lương bằng” nghĩa là gặp được bạn tốt của mình, chỉ nỗi vui mừng khi gặp được (hoặc gặp lại) bạn tốt.
___________
*Sẽ còn cập nhật.

