Nguyễn Du và “quan san”
| On Th131,2026
(Ngày ngày viết chữ) Không chỉ trong câu Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san nổi tiếng, Nguyễn Du còn dùng từ “quan san” ở nhiều bài thơ khác. Vậy, “quan san” là gì?
“Quan san”, chữ Hán là 關山, ( cũng nói “quan sơn”), Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là cửa ải và núi non, chỉ nơi xa xôi. Ta có từ biên quan (邊關) nghĩa là cửa ải nơi biên giới, chỗ nước này giáp với nước khác.
Nguyễn Du rất thường dùng từ “quan san” này, nổi tiếng nhất chắc là câu Kiều:
Người lên ngựa kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Nguyễn Thạch Giang1 giảng: Quan san là cửa ải, núi non; màu quan san tức là nói cái vẻ xa xôi, cách trở. Ý cả câu là rừng phong đã nhuộm màu thu, lá đã ngả màu đỏ sẫm, trông càng thêm nỗi quan san cách trở.
Truyện Kiều bản của Hội Kiều học2 thì giảng khá trừu tượng rằng “màu quan san” là màu chia ly. Giảng như thế tuy chưa thật rõ ràng, nhưng có lẽ cũng không khác Nguyễn Thạch Giang giảng, đều ngụ ý nỗi buồn chia ly cách trở.
Cũng trong Truyện Kiều, Nguyễn Du còn dùng từ “quan san” trong câu:
Gác kinh viện sách đôi nơi,
Trong gang tấc lại gấp mười quan san.
Ý của câu lục bát này là Thuý Kiều và Thúc sinh, người ở Quan Âm các chép kinh, người ở phòng đọc sách, hai người cách nhau trong gang tấc mà xa xôi như mười lần quan san.
Trong bài Sơ nguyệt (Trăng non – Thanh Hiên thi tập), Nguyễn Du viết rằng:
Thiên lý quan san vô cải sắc,
Nhất đình sương lộ cộng sầu miên.
千里關山無改色,
一庭霜露共愁眠。
Tạm dịch:
Quan san ngàn dặm như nguyên,
Một sân sương móc buồn xuyên giấc dài.
Từ “quan san” cũng có trong Bất mị (Không ngủ – Thanh Hiên thi tập):
Quan san dẫn mộng trường,
Châm chử thôi hàn cận.
關山引夢長,
砧杵催寒近。
Tạm dịch:
Quan san đưa giấc mộng dài,
Tiếng chày giục giã lạnh thay nơi này.
Cũng là tiếng chày và quan san, trong bài Đại tác cửu thú tư quy kỳ 2 (Làm thay người đi thú lâu năm mong được về kỳ 2 – Nam trung tạp ngâm), Nguyễn Du viết:
Tân thu khí hậu thôi hàn chử,
Cố quốc quan san ký dạ già.
新秋氣候催寒杵,
故國關山寄夜笳。
Tạm dịch:
Đầu thu chày lạnh dần loan,
Tiếng kèn dìu dặt quan san đêm về.
Bài Minh giang chu phát (Thuyền ra đi trên sông Minh – Bắc hành tạp lục), Nguyễn Du viết:
Biệt hậu quan sơn tư đệ muội,
Vọng trung nham tụ kiến nhi tôn.
別後關山思弟妹,
望中岩岫見兒孫。
Tạm dịch:
Quan san xa, các em còn,
Núi non nhìn ngỡ cháu con quê nhà.
Cuộc đời của Nguyễn Du gắn với nhiều lần lưu lạc, Mười năm gió bụi rồi Làm quan ở Bắc Hà, sau đó đi sứ phương Bắc. Tác phẩm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều cũng là hành trình mười lăm năm lưu lạc. Những xa xôi cách trở ấy, có lẽ mỗi lần trông về cố hương, hai tiếng “quan san” đã luôn ẩn hiện trong tâm thức của thi nhân vậy.
___________

