Một vài bài ca dao, điệu hò chơi chữ chữ Hán
| On Th105,2026
(Ngày ngày viết chữ) Bài viết này giới thiệu với các bạn một vài bài ca dao, điệu hò có yếu tố chữ Hán khá thú vị mà Ngày ngày viết chữ sưu tầm được.
MỌI NGƯỜI CŨNG ĐỌC
>> Chuyện khôn chuyện dại qua một vài câu tục ngữ, ca dao
>> Những lời châm biếm của dân gian
Cha ông ta ngày trước thạo chữ Hán nên có nhiều bài ca dao hoặc điệu hò chơi chữ chữ Hán thú vị, có khi dùng để đố, để đối đáp nhau, xem như là một cách thi xem ai thạo chữ nghĩa hơn. Những bài ca dao, điệu hò dạng này cho thấy một nét sinh hoạt tinh thần đặc sắc của ngày trước.
Ngày ngày viết chữ sưu tầm được một số bài, giới thiệu ở đây để bạn đọc thưởng thức.
| Ngữ liệu | Giải thích chữ Hán trong ngữ liệu |
|---|---|
| (1) Sách in chữ để rành rành, Mỗi nơi mỗi phết hiệp thành chữ nhơn. Ngang thêm ngang nữa đơn đơn, Thục năng chi đại chữ nhơn lớn rồi. Ngang lên trên chót khơi khơi, Dĩ thiên dĩ địa trời ơi là trời. Lú lên xí nữa mà chơi, Phu hồ ích dị có chồng như chưa. Số thêm số nữa cho vừa, Hai vai nhấp nháy đà vừa chữ cho. Chữ nhơn ai sửa đen nờ, Thầy mô sửa không đặng vào thầy mình sửa cho. | • Mỗi nơi mỗi phết là hai nét ノ丶, hiệp thành chữ nhơn là chữ 人. • Ngang thêm ngang nữa là chữ 人 thêm nét ngang 一 thành chữ 大 (đại – lớn). “Đơn đơn” là khẩu ngữ Nam bộ, ý là đơn giản. • Ngang lên trên chót là chữ 大 thêm nét ngang 一 trên cùng, tạo thành chữ thiên 天. • Lú lên xí nữa là chữ 天 mà lú đầu lên một chút tạo thành chữ 夫 (phu – chồng). • Số thêm số nữa tức là thêm một nét sổ giữa chữ 夫 tạo thành chữ 未, sau đó trên hai vai thì cho thêm một dấu nháy (hai vai nhấp nháy) để tạo ra chữ 朱 (chu). Chữ 朱 trong văn Nôm thường dùng để biểu thị âm “cho” do mối quan hệ giữa âm “u” và “o” (chữ nhu = chữ nho, phù hộ = phò hộ, v.v.). |
| (2) – Truyện Kiều anh giảng đã tài, Đố anh giảng được câu này anh ơi: “Biết thân đến bước lạc loài, Nhị đào thà bẻ cho người tình chung.” – Tình chung nào phải ai xa, Chính chàng Kim Trọng vào ra sớm chiều. | Mấu chốt của bài này là chỗ chữ “chung” trong từ “tình chung”. Chữ “chung” trong “tình chung”, chữ Hán là 鍾, chiết tự sẽ được hai chữ 金 và 重 (kim và trọng). Cho nên người tình chung mà Kiều nhắc đến chính là chàng Kim Trọng. Có người nhầm lẫn chữ chung trong “tình chung” chính là chữ chung – 終 trong “thuỷ chung”. Thật ra đây là hai chữ chung khác nhau. Bạn có thể đọc thêm bài viết này để hiểu rõ hơn. |
| (3) Đất thì là đất bùn ao, Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay. Con ai mà đứng ở đây, Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào. | Bài này nói về chữ hiếu 孝, cụ thể: • Đất thì là đất bùn ao là chữ thổ 土. Ai cắm cây sào sao lại chẳng ngay là nét phẩy ノ cắt qua chữ thổ 土 thành 耂. • Con ai mà đứng ở đây là chữ tử 子. Đứng thì chẳng đứng, vịn ngay vào sào là chữ tử 子 chạm vào bộ phận 耂 tạo thành chữ hiếu 孝. Về tự nguyên, chữ hiếu 孝 vẽ đứa trẻ 子 cõng một người già – chữ lão 老 lược nét còn 耂, chỉ sự thuận thảo của con cháu đối với ông bà, cha mẹ. |
| (4) Quê anh thì ở nơi đâu, Mà anh thả lưới, buông câu xứ này? Giằng đầu, nhất khẩu, chữ điền, Thảo đầu, vương ngã, là miền quê anh. | • Giằng đầu ở đây chỉ bộ miên 宀, nhất khẩu là chữ nhất 一 và chữ khẩu 口, chữ điền 田, hợp lại thành chữ phú 富. • Thảo đầu, vương ngã là chữ nghĩa 義. Chữ này bên trên là dương 𦍌 bên dưới là ngã 我. Chữ dương 𦍌 thường viết là 羊 nhưng trong chữ 義 nét sổ viết ngắn lại thành 𦍌. Trong bài ca dao này chữ 𦍌 bị tách hai phần, gồm hai nét chấm phẩy bên trên thành thảo đầu còn 4 nét bên dưới hiểu là chữ vương 王. Tóm lại, quê anh là Phú Nghĩa – 富義. |
| (5) – Cầm đàn gảy khúc nam thương, Tì bà cầm sắt, bát vương đối gì? – Khéo đưa sách cổ mà ôn, Mị li võng lượng bốn con quỷ ngồi. | Tương truyền bài ca dao này lấy ý từ tích Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ Trung Quốc bị thách đối “Si, mị, võng, lượng, tứ tiểu quỷ” (theo Hán tự thì trong bốn chữ si (li) 魑, mị 魅, võng 魍, lượng 魉 đều có một chữ quỷ 鬼, cộng lại thành bốn chữ) đã đối lại “Cầm, sắt, tì, bà, bát đại vương” (cầm 琴, sắt 瑟, tì 琵, bà 琶, mỗi chữ đều có hai chữ vương 王, cộng lại thành tám chữ). Cố nhiên, đây là giai thoại, cần cân nhắc độ xác thực. |
| (6) – Thấy anh hay chữ, Em đây lại hỏi thử đôi lời: Nữ với tử nó là chữ hảo, Thảo với hoá vốn thiệt chữ hoa. Hảo, hoa em giữ kỹ trong nhà, Đón ngăn ong bướm để mà đợi anh. – Nghe em hỏi tức, Trai anh không đối phứt sao đành: Vương chấm vai thiệt là chữ ngọc, Mộc với công vốn nó chữ tòng. Ngọc, tòng anh giữ kín bên song, Thảo, hoa gầy bạn một phòng mới vui. | • Nữ 女 với tử 子 nó là chữ hảo 好. Xưa có quan niệm rằng phụ nữ sinh được con (con trai) là chuyện tốt. • Thảo 草 (艹) với hoá 化 vốn thiệt chữ hoa 花. • Vương 王 chấm vai (丶) thiệt là chữ ngọc 玉. Chữ ngọc thường dùng để chỉ điều tốt đẹp, tính cách đáng quý. • Mộc 木 với công 公 vốn nó chữ tòng 松. Chữ 松 ta thường dùng âm tùng, tức cây tùng/cây thông, loài cây cứng cáp, thường dùng để ví người con trai – ứng với chữ hoa 花 dùng để ví người con gái. • Từ “gầy bạn” ở câu cuối có nghĩa là gây dựng nên đôi bạn, ý là kết duyên với nhau. Bài này là một bài hò đối đáp, gọi là hò văn. |
Hiện nay, chúng ta không mấy thạo chữ Hán nữa, nên những bài ca dao, câu hò đối đáp dạng này ít thịnh hành. Trong khả năng hạn hẹp của mình, Ngày ngày viết chữ cũng chỉ giới thiệu được vài bài, hy vọng có thể mang đến cho bạn đọc đôi chút cảm giác mới mẻ, thú vị. Trong tương lai, nếu sưu tầm được thêm, Ngày ngày viết chữ sẽ tiếp tục bổ sung cho bài viết.
Nếu muốn bắt đầu học chữ Hán, bạn có thể tham khảo khoá học Làm quen chữ Hán của Ngày ngày viết chữ.

