Đã lâu không gặp – Những từ ngữ dần dần ít dùng
| On Th1107,2026
(Ngày ngày viết chữ) Bài viết này tập hợp và giới thiệu một số từ ngữ đã lâu không gặp, tức là những từ ngữ cũ hoặc tương đối cũ, hiện nay ít dùng. Quý bạn đọc trước là đọc chơi cho biết, sau nếu có thể vận dụng được thì càng hay. Từ cũ thì mình dùng lại cho mới.
Cuối tháng 9/2026, chúng tôi có đăng một bài viết trên fanpage Ngày ngày viết, hỏi có từ nào mà bạn đọc thấy hay nhưng đã lâu không thấy ai dùng không. Bạn đọc đã nhắc đến nhiều từ hay, nên Ngày ngày viết chữ làm một loạt bài nho nhỏ trên fanpage – gọi là “Đã lâu không gặp” – và sẽ cập nhật dần dần vào bài viết này.
MỜI BẠN ĐỌC
>> Cổ mỹ từ – Những từ đẹp mà nay ít dùng
★ Ngõ hầu ★
“Ngõ hầu”, Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên giảng đây là từ cũ, là “từ biểu thị điều sắp nêu ra là mục đích mà việc làm vừa nói đến mong sao đạt cho được”. Có thể mô hình hoá cách giải thích của Hoàng Phê thành [A ngõ hầu B], diễn giải là ta thực hiện hành động A mong sao đạt được mục đích B.
Ví dụ: Làm việc quên mình (A), ngõ hầu chuộc lại lỗi lầm (B).
Việt Nam từ điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ thì giảng đơn giản là “để rồi; để mà” và cho ví dụ “Làm việc nhiều, ngõ hầu để dành tiền về sau”. Một số từ khác có nghĩa tương tự “ngõ hầu” là “hòng”, “nhằm”, “đặng”,…
Vì đây là từ cũ nên ta thường gặp trong thơ ca xưa, chẳng hạn:
(1) Ải quan rợ Thát quấy rầy,
Định ngày tiến thảo ngõ hầu an biên.
(Nhị Độ Mai, khuyết danh)
(2) Nguyệt Nga đi đặng hồi lâu,
Tìm nơi bàn thạch ngõ hầu nghỉ chưn.
(Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu)
(3) Min không sợ chết cúi đầu,
Phát minh lẽ thẳng ngõ hầu cùng nghe.
(Hạnh thục ca, Nguyễn Nhược Thị)
“Min” trong câu trên nghĩa là “ta đây”.
Trong ca dao cũng có sử dụng từ này:
(4) Chu cha sao nắng bể đầu,
Anh về làm rể ngõ hầu an thân.
Bùn lê từ chóp đến chân,
Em ngồi vắt vẻo ngoài sân ăn quà.
Cực lòng anh lắm chu cha!
Vợ không phải vợ, chồng ra chi chồng!
(5) Làm anh ăn trước bước đầu,
Dạy dỗ em út ngõ hầu thay cha.
★ Quan phu ★
Hôm trước giới thiệu từ “tục huyền”, có bạn nói mình biên từ “quan phu” nữa nha, nên giờ có bài này.
“Quan phu”, chữ Hán viết là 鰥夫, trong đó:
– Quan là người goá vợ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “người goá vợ, người lớn tuổi mà không có vợ”. Trong bản Gia huấn ca (được cho là) của Nguyễn Trãi có câu:
Thương người quan quả cô đơn,
Thương người lỡ bước lầm than kêu đường*.
Trong đó “quan” 鰥 là người goá vợ, “quả” 寡 là người goá chồng, “cô” 孤 là mồ côi cha mẹ, “đơn” 單 (chính ra là “độc” 獨 nhưng vì niêm luật thơ mà ở trên dùng “đơn”) là già không con cái. “Quan quả cô độc” được gọi là “tứ cùng” (四窮), tức bốn nhóm người có tình cảnh đáng thương hơn cả theo quan niệm xưa.
– Phu là chồng, người chồng, người đàn ông như phu thê (夫妻) là vợ chồng, vị hôn phu (未婚夫) là chồng chưa cưới, tiều phu (樵夫) là người đốn củi.
“Quan phu” là người đàn ông goá vợ, cũng có thể chỉ người đàn ông lớn tuổi mà không có vợ. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng “người đàn ông độc thân, ở một mình, không vợ”. Ứng với “quan phu” là “quả phụ” (寡婦), nghĩa là người đàn bà goá chồng.
Bài Hạ trung tiếp đáo khuê vi hung tấn ai cảm kỷ thực (Giữa mùa hạ nhận tin vợ mất, ghi lại nỗi đau buồn) của Phan Huy Ích có câu:
Ky tình bôn phó vị tri kỳ,
Thiên lý quan phu trường uất kết.
羈情奔訃未知期,
千里鰥夫腸鬱結。
Tạm dịch:
Thương xót nơi xa nào bày tỏ,
Ngàn dặm quan phu dạ kết sầu.
___________
* Cũng có bản chép “Thương người đói rét/đói rách lầm than kêu đường”.
★ Thảng hoặc ★
“Thảng hoặc” (倘或), Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) giảng “thảng hoặc” là:
1. (phụ từ) chỉ thỉnh thoảng, hoạ hoằn lắm (việc ấy mới xảy ra). Ví dụ: Đường vắng tanh, thảng hoặc mới có một người đi qua.
2. (kết từ) từ biểu thị điều sắp nêu ra là một giả thiết rất hiếm khi xảy ra; vạn nhất. Ví dụ: Thảng hoặc có việc gì thì đã có bà con xóm giềng, anh yên tâm.
Chúng ta có thể hình dung thế này:
– Ở nét nghĩa thứ nhất, “thảng hoặc” biểu thị một việc gì đó hiếm, lâu lâu mới có.
– Ở nét nghĩa thứ hai, “thảng hoặc” biểu thị giả dụ mà có, ví mà (việc gì đó) có thật.
Nét nghĩa 2 này được ghi nhận trong Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh là “hoặc giả cũng có”. Đây có lẽ là nét nghĩa ban đầu của “thảng hoặc” (chữ “thảng” có nghĩa là nếu, giả sử, ví phỏng). Hiện nay, nét nghĩa này có vẻ không phổ biến bằng nét nghĩa 1.
Hy vọng sau này khi có dịp miêu tả sự gì thỉnh thoảng mới có, chúng ta sẽ dùng thử từ này, đặng gặp nó thường xuyên hơn. Ví dụ: Bốn bề yên ắng, thảng hoặc có tiếng lá rơi.
★ Tục huyền ★
“Tục huyền”, chữ Hán viết là 續絃, trong đó:
– Tục là nối, nối tiếp, nối liền như trong liên tục (連續), tiếp tục (接續), kế tục (繼續). Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “đứt rồi lại nối liền gọi là tục”. Xin phân biệt với chữ “tục” (俗) chỉ thói quen lâu đời như trong phong tục (風俗) hoặc chỉ nghĩa tầm thường, bình thường như trong trần tục (塵俗), thông tục (通俗).
– Huyền là dây đàn, chữ Hán viết là 絃 hoặc 弦, như cải huyền (改弦) là thay dây đàn, tranh huyền (箏弦) là dây đàn tranh. Chữ này ngày nay khá ít dùng. Xin phân biệt với “huyền” (玄) nghĩa là đen, bí ẩn trong huyền bí (玄秘), huyền diệu (玄妙), và “huyền” (懸) nghĩa là treo lơ lửng trong huyền đề (懸蹄).
“Tục huyền” nghĩa đen là nối lại dây đàn, nghĩa bóng là lấy vợ khác sau khi vợ mất. Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “Ðời xưa ví vợ chồng như đàn sắt đàn cầm, cho nên vợ chết gọi là đoạn huyền 斷絃, lại lấy vợ nữa gọi là tục huyền 續絃”.
(Sẽ còn cập nhật)
___________
Tài liệu tham khảo chính:
1. Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Hồng Đức, 2022.
2. Hán Việt từ điển, Đào Duy Anh, NXB Văn hoá Thông Tin, 2013.
3. Đại tự điển Hán-Việt – Hán ngữ cổ và hiện đại, Trần Văn Chánh, NXB Hồng Đức, 2022.

