Lẳng lặng mà nghe – Về một cách mào đầu trong thi ca tiếng Việt
| On Th113,2026
(Ngày ngày viết chữ) Có khá nhiều tác phẩm thi ca của ta bắt đầu bằng bốn tiếng “lẳng lặng mà nghe”, như thể một lời nhắc nhở, rằng sau đây là những điều quan trọng, mời mọi người lắng nghe.
Cách mào đầu bằng bốn tiếng “lẳng lặng mà nghe” này phổ biến ở nhiều loại hình, trong đó có vè, thường dùng để châm biếm. Song cũng có những bài vè bắt đầu bằng “lẳng lặng mà nghe” nhưng nội dung cũng chỉ là cho biết thông tin thông thường, không châm biếm gì.
Ngoài vè, ta còn có một số thi phẩm nổi danh cũng bắt đầu bằng “lẳng lặng mà nghe”. Bài viết này giới thiệu một số tác phẩm thơ và vè bắt đầu bằng “lẳng lặng mà nghe” như thế.
Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu
Trước đèn xem truyện Tây minh,
Gẫm cười hai chữ nhơn tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thành,
Tu nhơn tích đức sớm sanh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám1, nghề chuyên học hành.
Trong phần mở đầu của Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu dùng “lẳng lặng mà nghe”, kết hợp với “hỡi ai” tạo thành một lời kêu gọi, rằng mọi người hãy nghe áng thơ này, để mà “dữ răn việc trước, lành dè thân sau”.
Năm mới chúc nhau – Trần Tế Xương
(1)
Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối,
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.
(2)
Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.
(3)
Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.
(4)
Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.
Bài thơ này dùng “lẳng lặng mà nghe” ở đầu các khổ thơ, sức châm biếm của bài thơ hết sức sâu cay.
Bài thơ còn một khổ cuối nữa nhưng có ý kiến cho rằng khổ cuối cnày không phải của Trần Tế Xương, là người đời sau dựa theo phong cách của Trần Tế Xương viết thêm vào:
Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người.
Chúc người chúc Tết – Nguyễn Vũ Tiềm
Lẳng lặng mà nghe tôi chúc ông
Từ ngày ông chán cảnh người đông
Ung dung thượng giới trời mây dạo
Lều chõng long đong hết bận lòng.
Tôi lại mừng ông được tiếng sang
Văn chương có giá chốn cung Hằng
Dưới đây lạ lắm, nhiều thi phẩm
Vừa bán, vừa cho vẫn ế hàng.
Bài thơ này có vẻ là để hoạ lại bài Năm mới chúc nhau của Trần Tế Xương ở trên, cũng bắt đầu bằng “lẳng lặng mà nghe”.
Vè thằng nhác
(1)
Lẳng lặng mà nghe
Cái vè thằng nhác
Trời đà phó thác
Tính khí anh ta
Buổi còn mẹ cha
Theo đòi thư sự
Cho đi học chữ
“Nhiều chữ ai vay?”
Cho đi học cày
Rằng “Nghề ở đợ!”
(2)
Cho đi học thợ
Nói “Nghề ấy buồn”
Cho đi tập buôn
“Ấy nghề ngồi chợ!”
Việc làm tránh trớ
Chỉ biết ăn chơi
Cha mẹ qua đời
Không ai cấp dưỡng
Dáng đi thất thưởng
Như thể cò hương
(3)
Bụng đói giơ xương
Miệng thời tu hú
Tay chân cù rũ
Như tướng cò ma
Cô bác xót xa
Kêu cho nắm gạo
Bỏ mồm trệu trạo
Sợ nấu mất công
Chết rũ giữa đồng
Rồi đời thằng nhác.
Vè gái hư
(1)
Ai ơi lẳng lặng mà nghe,
Người xưa để lại bài vè gái hư.
Nấu cơm bữa thiếu bữa dư,
Bữa sống bữa khét bữa như cháo bồi.
Đụng đâu cũng lết vào ngồi,
Lấm lem vạt áo như nùi giẻ lau.
Quần thì ống thấp ống cao,
Đầu bù tóc rối tào lao suốt ngày.
Ngồi lê đôi mách thật tài,
Sáng thì đôi chối chiều thì phân bua.
Tính tình quạu quọ câu mâu,
Gặp trai cọ vế ngoẹo đầu múa may.
Người thì lúc lắc lúc lay,
Hở hang mất nết nhướng mày vảnh môi.
Lại hay dòm ngó săm soi,
Việc nhà bất biếng đi bươi việc người.
Nói năng không giữ lấy lời,
Hứa mai hẹn mốt thả trôi qua ngày.
(2)
Ăn hàng ăn quán đó đây,
Cha mẹ la rầy mặt xụ mày chau.
Gặp ai cũng chẳng hỏi chào,
Bạn bè cùng lứa mày tao om sòm.
Vô bếp quăng nồi liệng xoong,
Chửi mèo mắng chó chẳng còn nể ai.
Gái mà có tật thày lay,
Gái mà chẳng chút nhu mì nết na.
Quần áo phơi nắng phơi mưa,
Đụng đâu liệng đó thúng nia bung vành.
Nồi ơ chẳng biết lủng lành,
Bắc lên nó chảy lạnh tanh bếp lò.
Chổng mông thổi lửa pho pho,
Đổ thừa ông táo ổng ho om sòm.
Vè này nhắn nhủ cho con,
Hư thân mất nết uổng công làm người.
Vè này mới bước vào đời,
Còn bao điều phải con thời học thêm.
Vè các thứ bánh
Như trên đã nói, có những bài vè bắt đầu bằng “lẳng lặng mà nghe” nhưng nội dung cũng chỉ là cho biết thông tin thông thường, không châm biếm gì. Bài Vè các thứ bánh và bài Vè các loài cá dưới đây là ví dụ.
(1)
Lẳng lặng mà nghe
Bánh đứng đầu vè
Ðó là bánh tổ
Cái mặt nhiều lỗ
Là bánh tàn ong
Ðể nó không đồng
Ðó là bánh tráng
Ngồi lại đầy ván
Nó là bánh quy
Sai không chịu đi
Ðó là bánh bàng
Trên đỏ dưới vàng
Là bánh da lợn
Mây kéo dờn dợn
Là bánh da trời
Ăn không dám mời
Nó là bánh ít
Băng rừng băng rít
Ðó là bánh men
Thấy mặt là khen
Nó là xôi vị
Nhiều nhân nhiều nhị
Là bánh trung thu
Vô lửa nổi u
Ðó là bánh phồng
Ðem thả giữa dòng
Ðó là bánh neo
Ra nắng dẻo queo
Ðó là bánh sáp
Không ai dám xáp
Ðó là bánh xe
Xỏ lại tréo que
Ðó là bánh rế
Ăn rồi còn ế
Ðó là bánh dừa
Ăn không có chừa
Ðó là bánh tiêu
Ðể lâu nó thiu
Vốn là bánh ướt
(2)
Chưa ăn giấu trước
Nó là bánh cam
Bỏ vô khám giam
Ðó là bánh còng
Ôm ấp vào lòng
Nó là bánh kẹp
Xem coi thật đẹp
Ðó là bánh chưng
Chồng nói mới ưng
Ðó là bánh hỏi
Ðêm nằm mệt mỏi
Ðó là bánh canh
Kéo níu từng khoanh
Ấy là bánh tét
Ráp lại từng nét
Nó là bánh gừng
Bước lên có từng
Ðó là bánh cấp
Nằm ngủ dưới thấp
Là bánh hạ nhân
Mình nó trợt trơn
Ấy là bánh lọt
Ăn thơm mà ngọt
Là bánh hoa viên
Ăn khỏi trả tiền
Ðó là bánh bao
Ðem liệng đàng sau
Là bánh quai vạc
Trắng trong như bạc
Là bánh xu xê
Mặt tràng ê hề
Ðó là bánh bún
Mình đen lốm đốm
Là bánh hạt mè
Thấy ai cũng kè
Ðó là bánh dập
Người thích mặt chắc
Ðó là bánh giầy
(3)
Nói nghe rất hay
Ðó là bánh mật
Bụng no ấm cật
Ðó là bánh âm
Mình mẩy trắng trong
Là bánh bột lọc
Ai cũng mời mọc
Là cái bánh trôi
Ðứng không thấy vui
Ðó là bánh bò
Nằm cứ co ro
Ðó là bánh cuốn
Cái gì cũng muốn
Nó là bánh đa
Dứt hoài không ra
Nó là bánh dẻo
Nổi trôi khắp nẻo
Ðó là bánh bèo
Giàu mãi không nghèo
Chính là bánh khoái
Ðược người ưu đãi
Là bánh phồng phềnh
Nhẹ mỏng và mềm
Ðó là bánh cốm
Áo quần lốm đốm
Nó là bánh gai
Một giống như hai
Chính là bánh đúc
Tròn cho một cục
Ðó là bánh vo
Ăn hoài không no
Ðó là bánh vẽ
Dùng cho lính trẻ
Là bánh chè lam
Ăn uống tham lam
Ðó là bánh ú
Ði mấy không đủ
Ðó là bánh giò
Từng đoạn quanh co
Ðó là bánh khúc…
Vè các loài cá
(1)
Cô bác xóm giềng
Lẳng lặng mà nghe
Cá nuôi thiên hạ
Là con cá cơm
Không ăn bằng mồm
Là con cá ngát
Không ăn mà ú
Là con cá voi
Hai mắt thòi lòi
Là cá trao tráo
Không may quần áo
Là con cá chim
May áo không kim
Là con duối dẻ
Sống lâu mạnh khoẻ
Là cá trường sanh
Ở ngoài đầu gành
Là cá bống cát
Đi thời xách mác
Là con cá đao
Đốn cây mà rào
Là con cá chép
Nó kêu óp ép
Là con cá heo
Buộc lại mà treo
Là cá cờ phướn
Để lên mà nướng
Là cá nóc vàng
Để được hai thoàn2
Là cá nhám nghệ
(2)
Đi thời chậm trễ
Là cá lù đù
Đầu óc chù vù
Là con cá úc
Bắt lên chặt khúc
Là con cá sòng
Vợ đánh với chồng
Là con cá sào
Mình cũng như dao
Là cá lưỡi trâu
Eo đầu ngắn cổ
Là con cá ét
Miệng mồm lép xẹp
Là con cá móm
Chơi trăng cả hám
Là con cá thu
Vừa sủa vừa tru
Là cá hàm chó
May ngồi xỏ rỏ
Là cá hàm be
Lắng tai mà nghe
Là con cá mỏng
Việc làm cho chóng
Là con cá mau
Lãi đãi theo sau
Là con cá nóc
Chân đi lốc thốc
Là con cá bò
Ăn chẳng hay no
Là con cá liệt
(3)
Gái tham huê nguyệt
Là con cá dâm
Lấy cây mà đâm
Là cá nhám nhọn
Nước da lạm xạm
Là cá nhám trâu
Mặt trắng làu làu
Là cá bạc má
Hình đen như quạ
Là cá ô mun
Đặt giữa đình trung
Là cá ông sáp
Vừa đi vừa táp
Là cá dọ đàng
Kiều lạc khua vang
Là con cá ngựa
Rước thầy về chữa
Là cá tà ma
Đi xét từ nhà
Là con cá sát
Đắp bờ mà tát
Là cá ở mương
Giống không biết đường
Là con cá lạc
Kể cho cô bác
Nghe lấy mà chơi
Kể đã hết hơi
Xin cho tôi nghỉ.
Những bài vè dạng này thường cho thấy tính phong phú của sản vật. Thông qua bài vè, chúng ta cảm nhận được thiên nhiên và đời sống con người dồi dào, đa dạng và thú vị (tuy cũng có nhiều loại bánh, loại cá có lẽ chúng ta chưa từng nghe nói hoặc có nghe không biết).
Về cách dùng “lẳng lặng mà nghe”, có thể thấy các tác giả còn dùng kết hợp với “ai ơi”, “hỡi ai”, “cô bác xóm giềng”, “bà con cô bác”, v.v. để nhấn mạnh kêu gọi, gây chú ý cho người nghe.
___________

