Xuân sắc huân nhân tuý – Loạt bài mừng xuân Bính Ngọ 2026
| On Th221,2026
(Ngày ngày viết chữ) Như thông lệ hằng năm thì Tết đến xuân về là Ngày ngày viết chữ sẽ biên một loạt bài 7 kỳ để mừng xuân cùng bạn đọc. Năm nay cũng vậy, Ngày ngày viết chữ sẽ lên bài từ 28 đến mùng 5 Tết trên Fanpage và Instagram.
Năm rồi, chủ đề mà Ngày ngày viết chữ chọn là “Hương xuân đậu xuống vai mềm”, nói về tình xuân trong ca dao. Năm nay, Ngày ngày viết chữ làm về xuân trong thơ chữ Hán trung đại Việt Nam.
Tên chủ đề năm nay là “Xuân sắc huân nhân tuý” (vẻ đẹp mùa xuân nung say lòng người). Cụm này trích trong bài Hải khẩu dạ bạc hữu cảm1 của Nguyễn Trãi.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 1: Xuân tín
“Xuân tín”, chữ Hán là 春信, nghĩa là “tin xuân”. Chữ “tín” nghĩa là tin tức, như gia tín 家信 là tin nhà, cát tín 吉信 là tin lành. Xuân tín là tin xuân, tin báo mùa xuân đến. Trong thi ca, những thứ báo tin xuân sớm nhất thường là hoa mai, gió đông (gió từ hướng đông thổi tới),…
Bài Ái mai trúc, di Ngô Dương Đình của Nguyễn Văn Siêu có câu:
Đãn nguyện đắc tài bồi,
Ninh tri xuân tín tảo.
但願得栽培,
寧知春信早。
Tạm dịch:
Đắp bồi hằng những ước ao,
Tin xuân đến sớm lúc nào chẳng hay.
Bài này nói về cây mai, cho rằng cốt cách băng ngọc, luôn mang nét tuyết sương, là loài cây nở hoa trong giá lạnh, trước cả các loài hoa khác.
Bài Ngự chế mai hoa thi của Lê Thánh Tông cũng xem hoa mai là “xuân tín tảo” (báo tin xuân sớm nhất):
Đa thiểu Quỳnh lâm xuân tín tảo,
Phong tiền thác lạc ngọc thiên chu.
多少瓊林春信早,
風前錯落玉千株。
Tạm dịch:
Tin xuân sớm báo vườn Quỳnh,
Gió tung cánh mỏng, như nghìn ngọc rơi.
Một bản dịch khác là bốn câu song thất lục bát nhằm diễn giải đầy đủ hơn (do hai câu gốc chứa nhiều ý):
Quỳnh lâm biết mấy cỏ hoa,
Mai đà nở sớm ấy là tin xuân.
Hoa bung trước gió vô ngần,
Tựa ngàn cành ngọc ngóng xuân reo mình.
Về vấn đề cây mai/hoa mai trong thơ ca trung đại là mai gì, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều ý kiến khác nhau, chúng ta không nên quy nhất “mai” ở đây là mai vàng, mà có thể là mai trắng, mai hồng, hoặc có khi chỉ cây/hoa mơ, v.v. tuỳ tác phẩm.
Bài Nguyên nhật của Phùng Khắc Khoan cũng có dùng từ “xuân tín”:
Tối ái đông phong tằng thức diện,
Tảo truyền xuân tín đáo hoa căn.
最愛東風曾識面,
早傳春信到花根。
Tạm dịch:
Mến nhất gió đông từng gặp qua,
Truyền tin xuân sớm tận rễ hoa.
Ở đây, Phùng Khắc Khoan cho rằng gió đông báo tin xuân sớm nhất. Cùng cảm thức đó với Phùng Khắc Khoan, Nguyễn Bính viết:
Đã thấy xuân về với gió đông,
Với trên màu má gái chưa chồng.
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm,
Ngước mắt nhìn giời, đôi mắt trong.
(Trích Xuân về)
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 2: Xuân tâm
“Xuân tâm”, chữ Hán là 春心, nghĩa là lòng xuân, lòng xuân phơi phới hoặc lòng thương cảm trong mùa xuân. Đó là những cảm xúc được gợi lên trong cảnh sắc mùa xuân. Về sau, “xuân tâm” cũng dùng để chỉ tình cảm tương tư giữa những người yêu nhau. Một từ khác cũng có nghĩa tương tự là “xuân tình” 春情.
Bài Ất Sửu trung thu hậu hoạ Đông Chi thị cảm Như Vân ca nhi tại thời nguyên vận2 của Nguyễn Phúc Ưng Bình có câu:
Sạ hoài thu tứ cảm xuân tâm,
Tiêu khát Tương Như ngũ dạ cầm.
乍懷秋思感春心,
消渴相如五夜琴。
Tạm dịch:
Tiết thu ôm ấp lòng xuân,
Để Tương Như ốm, bâng khuâng ôm cầm.
Phụng canh Thái Tông Chính Bình chương vận3 của Trần Nguyên Đán có câu:
Lão yếm phồn hoa Hán Phú Bình,
Xuân tâm ký ngạo hiểu song minh.
老厭繁華漢富平,
春心寄傲曉窗明。
Tạm dịch:
Phú Bình già, chán phồn hoa,
Sáng bên song cửa, cười là lòng xuân.
Bài Khán điệp (Ngắm bươm bướm) của Nguyễn Văn Siêu có câu:
Tranh phi tế điệp mỗi song song,
Các bão xuân tâm bất khẳng hàng.
爭飛細蝶每雙雙,
各抱春心不肯降。
Tạm dịch:
Một đàn bướm nhỏ bay cao,
Lòng xuân phơi phới bướm nào nhường ai.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 3: Xuân quang
“Xuân quang”, chữ Hán là 春光, Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giảng là cảnh sắc mùa xuân sáng đẹp. Chữ quang – 光 nghĩa là ánh sáng, sáng sủa, rực rỡ, như hào quang 豪光, quang vinh 光榮, v.v..
Bài Ất Tị khai xuân thí bút (Thơ khai bút đầu xuân Ất Tị) của Phan Huy Ích có câu:
Tĩnh ái điềm phong vạn vựng tình,
Xuân quang thứ đệ đáo giang thành.
靜靄恬風萬彙晴,
春光次第到江城。
Tạm dịch:
Trời trong mây lặng gió yên,
Ánh xuân lần lựa ngả nghiêng bên thành.
Truyện thơ Nôm Hoa Tiên có câu rằng:
Xuân quang cả bốn mùa trời,
Gió đưa trăng rước hoa mời tuyết khuyên.
Một từ rất gần nghĩa với xuân quang là thiều quang 韶光 mà ta đã quen thuộc nhờ câu Kiều:
Mùa xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 4: Xuân huy
“Xuân huy”, chữ Hán là 春暉, nghĩa là nắng xuân. Chữ huy – 暉 nghĩa là nắng, ánh nắng, ánh sáng mặt trời. Trước đây, Ngày ngày viết chữ có biên từ lạc huy 落暉 nghĩa là ánh mặt trời khi gần lặn. Một từ khác cũng mang nghĩa tương tự lạc huy là từ tà huy 斜暉.
Bài Tích xuân (Tiếc xuân) của Nguyễn Bảo có câu rằng:
Thức khai hàm tỉnh thiên ti võng,
Lưu đắc xuân huy nhất dạ vô.
識開含井偏絲網,
留得春暉一夜無。
Tạm dịch:
Biết đâu bên lưới che giếng ấy,
Còn chút nắng xuân đọng trong này.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 5: Xuân miên
“Xuân miên”, chữ Hán là 春眠, nghĩa là giấc xuân, giấc ngủ mùa xuân. Chữ miên 眠 có nghĩa là ngủ, như cô miên 孤眠 nghĩa là ngủ một mình, trường miên 長眠 là giấc ngủ dài, giấc ngủ nghìn thu. Có câu “xuân miên bất giác hiểu” 春眠不覺曉 nghĩa là giấc ngủ xuân quên trời sáng, có thể hình dung người con gái đẹp nằm ngủ.
Bài Tây Sơn hành của Trần Danh Án có câu:
Phù thế thanh vân như quá khách,
Nhất sinh kỉ độ thác xuân miên.
浮世青雲如過客,
一生幾度托春眠。
Tạm dịch:
Như mây làm khách giữa đời,
Kiếp người trọn được mấy hồi giấc xuân.
Gần với “xuân miên” còn có từ “xuân mộng”, chỉ giấc mơ đêm xuân. Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh còn giảng “xuân mộng” cũng chỉ công danh phú quý một đời người, đều là chiêm bao cả.
Bài Ất Hợi xuân nhật ngẫu ngâm (Ngày xuân năm Ất Hợi ngẫu ngâm) của Nguyễn Phúc Ưng Bình có dùng từ “xuân mộng”, rằng:
Nhàn tương ngốc bút kỷ niên hoa,
Xuân mộng vô tu quái lão bà.
Nhược vấn sinh nhai hà sở sự,
Luận thi phẩm mính hựu tài hoa.
閒將禿筆紀年華,
春夢無須怪老婆。
若問生涯何所事,
論詩品茗又栽花。
Tạm dịch:
Hễ nhàn đem bút chép tuổi hoa,
Há trách mơ xuân vợ sợ già.
Ai hỏi trong đời làm gì thế?
Làm thơ thưởng trà lại trồng hoa.
Không nói về giấc mơ xuân nhưng có mơ và có mùa xuân, trong bài Đề sơn điểu hô nhân đồ4 Nguyễn Trãi viết:
Nhàn quải ngọ song triều thoái nhật,
Mộng hồi nghi thị cố viên xuân.
閒掛午窗朝退日,
夢回疑是故園春。
Tạm dịch:
Lui chầu treo tranh nơi cửa sổ,
Mơ về quê cũ chốn vườn xuân.
Đào Duy Anh dịch:
Những lúc lui chầu treo cửa sổ,
Ngờ xuân vườn cũ mộng về chơi.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ 6: Xuân dung
“Xuân dung”, chữ Hán là 春容, nghĩa là vẻ đẹp mùa xuân, vẻ tươi tắn của mùa xuân. Chữ dung 容có nghĩa là vẻ mặt, diện mạo, dáng dấp, thường chỉ vẻ đẹp, như dung nhan 容顏, nghi dung 儀容, ngọc dung 玉容.
Bài Giang hành ngẫu thành5 kỳ 3 của Lê Thánh Tông có câu:
Phong cao vân ước xuân dung nhuận,
Hoa lạc oanh đề mộ ảnh thâm.
風高雲約春容潤,
花落鶯啼暮影深。
Tạm dịch:
Gió mây quang đãng xuân tươi,
Oanh ca trong trẻo, hoa rơi cuối chiều.
Nói tới vẻ đẹp của mùa xuân, hẳn là không thể không nói tới “xuân hoa” (hoa mùa xuân).
Bài Cung viên xuân nhật ức cựu6 của Trần Thánh Tông có câu:
Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
Xuân hoa như hử vị thuỳ khai?
萬紫千紅空爛熳,
春花如許為誰開?
Tạm dịch:
Muôn tía nghìn hồng rực rỡ thay,
Hoa xuân tươi đẹp nở vì ai?
Hoặc:
Tím hồng muôn sắc thắm tươi,
Hoa xuân kia nở vì người nào chăng?
Ngô Tất Tố dịch:
Đầy vườn rực rỡ hồng chen tía,
Hoa khéo vì ai vẫn nở nhiều.
Xuân sắc huân nhân tuý – Kỳ cuối: Xuân sắc
“Xuân sắc”, chữ Hán là 春色, nghĩa là vẻ đẹp mùa xuân, cảnh đẹp mùa xuân, tương tự như từ “xuân dung” của kỳ trước. Ngoài ra, “xuân sắc” cũng được dùng để chỉ vẻ đẹp của người con gái.
Bài Hải khẩu dạ bạc hữu cảm của Nguyễn Trãi có câu rằng:
Nhãn biên xuân sắc huân nhân tuý,
Chẩm thượng triều thanh nhập mộng hàn.
眼邊春色薰人醉,
枕上潮聲入夢寒。
Tạm dịch:
Mắt ngời ngây ngất sắc xuân,
Giấc mơ bỗng lạnh, triều dâng gối đầu.
Ý thơ “xuân sắc huân nhân tuý”, vẻ đẹp mùa xuân nung say lòng người cũng chính là chủ đề của loạt bài mừng xuân Bính Ngọ này.
Cũng mang nghĩa cảnh đẹp mùa xuân còn có từ xuân cảnh 春景. Bài Tức cảnh của Ngô Thì Sĩ có câu:
Xuân cảnh thiên nùng ngâm hứng loạn,
Thôi xao bất giác tịch dương tây.
春景偏濃吟興亂,
推敲不覺夕陽西。
Tạm dịch:
Cảnh xuân dào dạt lòng thơ,
Mải mê phóng bút, đâu ngờ chiều buông.
🚫Vui lòng không sao chép, không đăng lại nội dung này lên trang, nhóm cũng như nền tảng khác.
Dịch thơ: Moony, Ka, Nguyễn Thuỳ Dung
___________
- Nguyễn Trãi có hai bài Hải khẩu dạ bạc hữu cảm, bài này mở đầu bằng câu “Hồ hải niên lai hứng vị lan”, bài còn lại mở đầu bằng câu “Nhất biệt giang hồ sổ thập niên”. ↩︎
- Tên bài thơ nghĩa là “Sau tiết trung thu năm Ất Sửu, hoạ thơ ông Đông Chi nhớ ca nữ Như Vân”. ↩︎
- Tên bài thơ nghĩa là “Kính hoạ vần bài thơ năm Chính Bình của Thái Tông”. ↩︎
- Tên bài thơ nghĩa là “Đề bức hoạ Chim núi gọi người”. ↩︎
- Tên bài thơ nghĩa là “Đi thuyền trên sông ngẫu nhiên thành thơ”. ↩︎
- Tên bài thơ nghĩa là “Ngày xuân trong vườn nhớ chuyện cũ”. ↩︎

