Tích luỹ vốn từ để viết tiểu thuyết lịch sử qua ‘Hồ Quý Ly’ của Nguyễn Xuân Khánh (Phần 2)
| On Th312,2026
(Ngày ngày viết chữ) Tiếp tục câu chuyện giới thiệu một số từ lịch sử hoặc những từ có sắc thái cũ xưa trong tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, hy vọng bài viết này có thể giúp bạn tích luỹ thêm một chút từ lịch sử để dùng trong sáng tác các tác phẩm có bối cảnh phong kiến.
>> Bạn xem Phần 1 của cụm bài này ở đây.
| THÔNG TIN TÁC PHẨM: Tên sách: Hồ Quý Ly Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh Thể loại: Tiểu thuyết lịch sử Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam Quy cách: 684 trang, bìa cứng, khổ 15,5 × 23,5 cm. Tác phẩm được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, 2017. |
Để tiện cho bạn đọc tham khảo, phần nội dung bên dưới được trình bày như sau:
• từ hoặc ngữ [chữ Hán nếu có]: giải nghĩa của Ngày ngày viết chữ.
Ví dụ là câu văn trong tác phẩm Hồ Quý Ly. (số trang trong sách)
Dưới đây là nội dung chi tiết:
• (vòng) cương toả [韁鎖]: cương là dây cương ngựa, toả là hàm thiếc ngựa, tức là bộ phận đặt giữa hai hàm răng ngựa để buộc cương. Vòng cương toả dùng để chỉ sự ràng buộc mất tự do.
Con chỉ muốn một cuộc đời nhàn rỗi, sống ngoài vòng cương toả. (298)
• (chàng) đãng tử [蕩子]: đãng là bình dị, thảnh thơi, cũng chỉ phóng túng, không giữ gìn. Chàng đãng tử là người sống thuận theo thú vui, sống buông thả, không câu nệ chuyên chú gì.
(…) hay vì đọc cuốn Đạt Trang của chàng đãng tử Nguyên Tịch nên đột nhiên những giấc mơ về rừng về suối, về cỏ cây hoa lá bỗng bừng thức giấc trong lòng ông vua trẻ. (312)
• (việc) điếm nhục [玷辱]: điếm là tì vết, khuyết điểm, thiếu sót, nhục là hổ thẹn, nhơ nhuốc. Việc điếm nhục là việc xấu hổ, việc hổ thẹn làm thành một vết nhơ.
Thằng Húc xưa kia đã làm việc điếm nhục đầu hàng giặc phương Nam, nay không thể để thằng Ngạc lại làm việc ấy với phương Bắc. (320)
• (trăng) hạ huyền [下弦]: huyền là cánh cung, vì trăng khuyết có hình dáng như cánh cung nên huyền cũng chỉ trăng khuyết. Trăng khuyết đầu tháng thì gọi là thượng huyền (上弦), trăng khuyết cuối tháng thì gọi là hạ huyền. Thượng là trước, đầu, trên, hạ là sau, cuối, dưới.
Con thuyền buồm chạy trên mặt biển vào lúc trăng hạ huyền. (321)
• bái yết [拜謁]: nghĩa cũng tương tự như bái kiến, tức là thăm hỏi, chào hỏi người trên. Ngoài ra, bái yết cũng chỉ việc lễ bái, chiêm ngưỡng.
Tìm đến Bạch Vân Sơn, bái yết tượng An Kỳ Sinh nằm trong mây trắng. (355)
• anh hồn [英魂]: linh hồn của người anh hùng hoặc hồn thiêng của người đã mất. Gần nghĩa với anh hồn có từ anh linh [英靈].
Ta đã chết rồi… Anh hồn nay chỉ còn là phảng phất… (392)
• (cây) đại lạp [大蠟]: lạp là cây nến. Đại lạp là cây nến lớn.
Dưới ánh sáng của cây đại lạp, màu ngọc am đen lánh pha ánh đỏ. (443)
• khuyến hiền [勸賢]: khuyến là khích lệ, hiền là người có đức hạnh, tài năng, thường nói hiền tài, hiền thần. Khuyến hiền là khích lệ người tài đức, thường là một chính sách dùng trong việc trị quốc.
Khuyến hiền là điều vô cùng hệ trọng… (451)
• (mùi) tân khổ [辛苦]: tân là vị cay, khổ là vị đắng. Tân khổ là cay đắng, dùng để chỉ nhọc nhằn, cơ cực trong cuộc sống.
Hãy cho hắn nếm hết mùi tân khổ của sự ngu tối, trước khi chết! (452)
• cương kiện (剛健): cương là cứng rắn, cứng cáp, mạnh mẽ, kiện là khoẻ mạnh. Cương kiện là cứng cáp mạnh mẽ, khoẻ khoắn.
Con người ta sống ở đời, trước tiên thể xác phải cương kiện. (482)
• uyên áo [淵奧]: uyên là cái vực sâu, áo chỗ sâu kín, khó hiểu. Uyên áo là từ chỉ những sự việc hoặc tâm tư, suy nghĩ sâu kín, có ý nghĩa sâu xa, khó hiểu.
Binh thư học đến chỗ uyên áo, cũng sẽ vỡ ra cái lý ở đời. (483)
• (kẻ) thất phu [匹夫]: thất là đơn, lẻ, thường, phu là người đàn ông. Thất phu là người đàn ông tầm thường.
Người không có thần là kẻ thất phu. (509)
• hương bảo [鄉寶]: hương là làng, thôn quê, quê nhà, bảo là vật báu, của quý. Hương bảo là vật báu của làng.
(…) tìm một tảng đá trắng đẹp nhất mà dân làng Nhồi vẫn thờ ở đình làm vật hương bảo… (512)
• dụng gián [用間]: dụng là dùng, gián ở đây là gián điệp, chỉ kẻ nằm vùng do thám tình hình. Dụng gián là dùng gián điệp.
Đã có nhiều chuyện rõ ràng về việc dụng gián của họ. (530)
• toạ hưởng kỳ thành [坐享其成]: ngồi không hưởng lợi, ngồi không mà hưởng thành quả từ một việc gì đó.
Những con người của thời rủ áo, toạ hưởng kỳ thành. (583)
• diện bích [面壁]: diện là cái mặt, ngoài mặt, bề mặt, cũng có nghĩa là ngoảnh về, bích là vách tường. Từ này xuất phát từ tích Đạt Ma Tổ sư từng ngồi xoay mặt vào vách núi ở Thiếu Lâm Tự suốt chín năm (cửu niên diện bích). Cho nên sự gì dụng công nhiều hoặc là chỉ sự thiền định, tập trung thì gọi là diện bích.
Cả đêm hôm ấy Thuận Tông ngồi diện bích. (588)
• phúc địa [福地]: phúc là may mắn, tốt lành, địa là đất, vùng đất. Phúc địa là vùng đất tốt lành, an vui.
Một trong những thuyết ấy nói nước Việt có bảy mươi hai phúc địa. (595)
• trưng tập [徵集]: trưng là vời, cho gọi, tập là nhóm họp, gom lại, góp ít thành nhiều. Trưng tập là gọi tới, gom nhóm lại, thường dùng chỉ việc huy động người hoặc của nhằm mục đích nào đó.
[…] phải trưng tập hàng ngàn chiếc thuyền, chiếc xe… (633)
• phương đàn [方壇], viên đàn [圓壇]: phương là vuông, viên là tròn, đàn là chỗ đất bằng phẳng và đắp cao lên để dùng cho việc cúng tế. Phương đàn là đàn hình vuông, viên đàn là đàn hình tròn. Hình tượng vuông tròn còn tượng trưng cho âm dương, như tích bánh chưng bánh giầy nói trời tròn đất vuông.
Dưới là phương đàn, trên là viên đàn… (661)
• manh tâm [萌心]: manh là mầm cỏ, mầm cây, cỏ cây nảy mầm gọi là manh, tâm là lòng. Manh tâm là trong lòng nhen nhúm, trong lòng nảy sinh ý đồ làm một việc gì đó. Từ gần nghĩa hiện nay hay dùng là manh nha, trong đó, nha [芽] cũng có nghĩa là mầm cây mầm cỏ.
Nếu phen này họ manh tâm thật sự thì mẻ lưới sẽ to đấy. (669)
| Một khía cạnh nữa của tiểu thuyết lịch sử / lấy cảm hứng lịch sử hoặc các dạng liên quan là các “ngòi bút mới” có khi băn khoăn không biết nên dùng từ xưng hô thế nào. Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, tác giả dùng từ xưng hô khá đa dạng, chẳng hạn: huynh, huynh đài, chàng, nàng, ta, em, muội, tiên sinh, công tử, đức ông, tiện nữ, nguyên quân, v.v.. Các bạn băn khoăn có thể tham khảo. |
Tài liệu tham khảo chính: Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh), Hán Việt tự điển (Thiều Chửu), Đại tự điển Hán-Việt – Hán ngữ cổ và hiện đại (Trần Văn Chánh).

