Nghĩ về “tham quan” và “thăm quan”
| On Th108,2026
(Ngày ngày viết chữ) Để nói về việc đi thăm thú, ngắm nghía, khám phá một phong cảnh, bạn dùng “tham quan” hay “thăm quan”?
MỌI NGƯỜI CŨNG ĐỌC
>> Giải nghĩa từ Hán Việt thường dụng (Phần 1)
>> Giải nghĩa từ Hán Việt thường dụng (Phần 2)
Phải xác định ngay rằng, để nói về việc đi thăm thú, ngắm nghía, khám phá một phong cảnh, một nơi chốn nào đó, từ đúng là “tham quan”.
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên giảng “tham quan” là động từ, nghĩa là xem thấy tận mắt để mở rộng hiểu biết hoặc học tập kinh nghiệm. Ví dụ: Tham quan di tích lịch sử; tham quan nhà máy; tổ chức đi tham quan.
Từ “tham quan” này chữ Hán viết là 參觀. Trong đó, “tham – 參” là lĩnh hội, khám phá, xem xét, nghiên cứu như trong “tham khảo – 參考”. Chữ “tham – 參” này còn có nét nghĩa xem vào, can dự vào, cũng chính là chữ “tham” trong tham dự, tham gia, tham luận, tham mưu, v.v.. Còn “quan – 觀” nghĩa là xem, nhìn, xem xét. “Tham quan” ban đầu mang nghĩa xem xét so sánh các tình huống, còn hiện nay được dùng để với nghĩa xem thấy tận mắt tận nơi.
Nhiều khi, từ “tham quan” này bị dùng chệch thành “thăm quan”, có lẽ vì:
(1) cho rằng thăm thú, đi thăm nên dùng “thăm”;
(2) nhập nhằng phát âm giữa âm /a/ (a dài) và /ă/ (a ngắn), tương tự “hàng ~ hằng” (hàng ngày ~ hằng ngày), “khảng ~ khẳng” (khảng khái ~ khẳng khái), v.v..
Bên cạnh đó, tiếng Việt còn một từ “tham quan” nữa nghĩa là kẻ làm quan tham lam, ta hay dùng “tham quan ô lại”. Từ “tham quan” này nếu viết bằng chữ Hán thì là 貪官, là một trường hợp đồng âm dị tự, dị nghĩa1 với “tham quan – 參觀” đề cập ở trên. Ngoài cách dùng “tham quan” (theo ngữ pháp Hán văn) còn có cách dùng “quan tham” cùng nghĩa, chỉ khác cách cấu tạo ngữ pháp.
Cũng có quan điểm cho rằng dùng “thăm quan” để chỉ hành động đi thăm thú, đi xem nơi nào đó, đặng phân biệt với “tham quan” chỉ ông quan tham lam. Mặc dù mục đích là để phân biệt, song, chúng ta cũng cần chú ý rằng, tiếng Việt vốn có hiện tượng đồng âm dị nghĩa, hai từ “tham quan” kể trên không chỉ khác nhau về ngữ nghĩa, từ loại mà ngữ cảnh sử dụng thường cũng khác, không quá khó để phân biệt.
| Trong câu chuyện “tham quan” (thăm thú, ngắm nghía) dùng chệch thành “thăm quan”, chúng ta có thể bàn kỹ hơn đôi chút. Xét về cấu tạo, tham và quan đều là yếu tố Hán Việt, còn thăm là yếu tố phi Hán Việt. Về nguyên tắc khi tạo từ, ta nên ưu tiên nguyên tắc “Hán Việt + Hán Việt”, tức là ưu tiên tham ghép với quan thay vì thăm ghép với quan. Cố nhiên, không phải là yếu tố Hán Việt thì không thể ghép với yếu tố phi Hán Việt (thực tế tiếng Việt có rất nhiều từ được tạo theo cách ghép “hỗn chủng” này), song việc tạo từ/dùng từ nhất quán “Hán Việt + Hán Việt” cũng là một chuyện mà người cầm bút cẩn túc nên cân nhắc. |
Nói chung, đây chỉ là vài điều Ngày ngày viết chữ bàn về “tham quan” và “thăm quan”. Có thể, từ trước đến nay bạn dùng “tham quan”, đọc xong bài này sẽ tiếp tục dùng “tham quan”. Có thể, từ trước đến nay bạn dùng “thăm quan”, đọc xong bài này vẫn tiếp tục dùng “thăm quan”. Có thể, từ trước đến nay bạn dùng “thăm quan”, đọc xong bài này thì từ giờ sẽ đổi sang dùng “tham quan”. Mỗi người sẽ có lựa chọn dùng từ của riêng mình, điều quan trọng là, chúng ta biết từ mình dùng có nghĩa thế nào và tại sao mình lại chọn dùng như vậy.
___________
- Là hiện tượng một chữ hoặc một từ có cùng cách nói/cách đọc nhưng viết (bằng chữ Nho) khác nhau và nghĩa cũng khác nhau. Trong từ điển chữ Quốc ngữ, những trường hợp này thường được đánh số để phân biệt. Ví dụ: tham quan 1 và tham quan 2. ↩︎

