“Gặp” ca dao, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Phần 1)
| On Th710,2026
(Ngày ngày viết chữ) Khi đọc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, có nhiều câu thơ (của nhiều bài khác nhau) gợi cho chúng tôi nhớ tới một số câu ca dao, tục ngữ của dân tộc. Bài viết này chúng tôi biên lại những câu thơ ấy kèm những câu ca dao, tục ngữ mà chúng tôi đã liên tưởng. Sự tương giao này đã giúp chúng tôi thấm nhuần hơn tinh thần dân tộc trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
MỜI BẠN ĐỌC THÊM:
>> Quang khuê tảo – Từ ngữ trong thơ văn Nguyễn Trãi
Nguồn tài liệu tham khảo của bài viết này chủ yếu là quyển Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm – Khảo cứu văn bản học so sánh của Kiều Thu Hoạch (NXB Khoa học và Xã hội, 2022).
| Tổng quan nội dung Quốc âm thi tập: Tập thơ gồm các phần: 1. Phần vô đề, gồm các bài: – Thủ vĩ ngâm (1 bài); – Ngôn chí (21 bài); – Mạn thuật (14 bài); – Trần tình (9 bài); – Thuật hứng (25 bài); – Tự thán (41 bài); – Tự thuật (11 bài); – Tức sự (4 bài); – Tự giới (1 bài); – Bảo kính cảnh giới (61 bài); – Quy Côn Sơn trùng cửu ngẫu tác (1 bài); – Giới sắc (1 bài); – Giới nộ (1 bài); – Huấn nam tử (1 bài). 2. Phần Thời lệnh môn là thơ về thời tiết bốn mùa gồm 21 bài, trong đó có 13 bài Tích cảnh thi. 3. Phần Hoa mộc môn là thơ về cây và hoa gồm 34 bài. 4. Phần Cầm thú môn là thơ về chim và thú gồm 7 bài. Trong phần 2, 3 và 4 mỗi bài đều có tên riêng. |
Ngôn chí bài 5 Nguyễn Trãi viết:
Dễ hay ruột bể sâu cạn,
Khôn biết lòng người vắn dài.
Còn Mạn thuật bài 4 thì viết:
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay.
Cả hai ý thơ trong bài đều có nghĩa là vạn vật trên đời đều có thể thông tỏ, đều dễ biết, duy có lòng người là sâu hiểm khó lường. Hai ý thơ này gợi nhớ cách nói của dân gian rằng:
Sông sâu còn có kẻ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
Hoặc:
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
“Ai đo cho cùng” nghĩa là ai mà đo được cho hết.
Trần tình bài 3 Nguyễn Trãi viết:
Khỏi triều quan mới hay ơn chúa,
Sinh được con thì cảm đức cha.
Ý thơ ở đây là: lúc thôi làm quan mới thấy rõ ơn vua, lúc sinh và nuôi con rồi mới thấu cảm hết ơn đức của cha mẹ. Câu Sinh được con thì cảm đức cha gợi nhớ đến câu tục ngữ Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ, hoặc câu:
Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.
Và một phiên bản khác là:
Lên non mới biết non cao,
Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.
Trần tình bài 4, Nguyễn Trãi viết:
Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế,
Ắt đã tròn bằng nước ở bầu.
Câu Ắt đã tròn bằng nước ở bầu ý là do thời thế ắt hẳn mình phải tròn như nước ở bầu. Tục ngữ của ta thì đúc kết: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Còn câu Ngoài năm mươi tuổi ngoài chưng thế thì gợi nhớ một câu trong Luận ngữ (論語), thiên Vi chính (為政) là “ngũ thập nhi tri thiên mệnh” (五十而知天命)1. Câu này của Nguyễn Trãi ý nói đã ngoài năm mươi, tri thiên mệnh rồi thì nên ở “ngoài chưng thế”, tức là lánh xa thế sự.
Ngôn chí bài 21 mở đầu bằng hai câu:
Chăng hay rắp rắp đã tư mươi,
Ngày tháng bằng thoi một phút cười.
Hai câu này lại làm liên tưởng đến câu ca dao:
Thời giờ thấm thoát thoi đưa,
Nó đi đi mãi có chờ đợi ai.
Còn có một phiên bản khác gồm bốn câu là:
Thời giờ thấm thoát thoi đưa,
Nó đi đi mãi có chờ đợi ai.
Con ơi chớ nên dông dài,
Đừng như con bướm là loài rong chơi.
Cùng một ý thời gian trôi nhanh, song hai câu thơ của Nguyễn Trãi chỉ cảm thán thời gian trôi nhanh, ngắn ngủi như một khoảnh khắc cười, ấy vậy mà người đã bốn mươi tuổi, còn bản ca dao bốn câu thì có thêm ý nhắn gửi hãy biết quý trọng thời gian.
Hai câu tiếp theo trong bài Ngôn chí 21 này cũng hết sức có ý nghĩa:
Thế sự người no ổi tiết bảy,
Nhân tình ai ủ cúc mồng mười.
“Ổi tiết bảy” chỉ người hợp lúc, “cúc mồng mười” chỉ kẻ quá thời, chi tiết về hai câu này, bạn có thể xem tại đây.
Mạn thuật bài 3 kết thúc bằng hai câu:
Hay văn hay vũ thì dùng đến,
Chẳng đã khôn ngay khéo đầy.
Câu Chẳng đã khôn ngay khéo đầy ý là dẫu có khôn khéo mấy cũng không qua được sự thật tròn đầy. Câu này gợi nhớ đến câu:
Khôn ngoan chẳng lọ thật thà,
Lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy.
Một câu khác tuy không thật sát nội dung trên, nhưng cũng cùng một ý đề cao tính chân thật là Nói gần nói xa chẳng qua nói thật.
Mạn thuật bài 10 Nguyễn Trãi viết:
Lòng người tựa mặt ai ai khác,
Sự thế bằng cờ bước bước nghèo.
Câu Lòng người tựa mặt ai ai khác ý nói lòng người cũng giống như mặt người, chẳng ai giống ai. Câu này gợi nhớ đến câu tục ngữ Biết người biết mặt, biết lòng làm sao. Còn câu Sự thế bằng cờ bước bước nghèo ý nói chuyện đời cũng giống như một ván cờ, mỗi bước đều ngặt nghèo, khó đoán.
Trần tình bài 9 hai câu đề viết rằng:
Bảy tám mươi bằng một bát tay,
Người sinh ở thế mỗ hèn thay.
“Một bát tay” tức một gang tay. Câu Bảy tám mươi bằng một bát tay ý nói đời người (ước lượng khoảng bảy tám mươi năm) cũng chỉ ngắn ngủi như một gang tay. Câu này gợi nhớ đến câu:
Đời người có một gang tay,
Ai hay ngủ ngày còn được nửa gang.
Còn câu Người sinh ở thế mỗ hèn thay là cách nói tự khiêm của tác giả, ý là người sinh ra trên cõi đời thì ta (mỗ) chỉ là một kẻ hèn.
Thuật hứng bài 10 Nguyễn Trãi viết:
Giàu mấy kiếp tham lam bấy,
Sống bao lâu đáo để màng.
Câu Giàu mấy kiếp tham lam bấy dễ gợi nhớ đến câu tục ngữ Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời. Còn câu Sống bao lâu đáo để màng thì gợi nhớ câu:
Đời người sống mấy gang tay,
Hơi đâu cặm cụi cả ngày cả đêm.
Thuật hứng bài 17 hai câu kết viết rằng:
Chẳng bượp giang hồ nơi vắng vẻ,
Cảnh thanh lọ ước cảnh non Bồng.
“Chẳng bượp” nghĩa là chẳng thiếu gì. “Non Bồng” là núi Bồng Lai, nơi có tiên ở. Hai câu này nói về cảnh đẹp thanh vắng giang hồ chẳng thiếu, không cần ước cảnh non tiên.
Hai câu này gợi nhớ đến câu:
Non Bồng nghe nói có tiên,
Giang hồ du thủy vui miền đến chơi.
Song câu của Nguyễn Trãi và câu ca dao xem chừng có ý vị khác nhau.
Thuật hứng bài 18 Nguyễn Trãi viết:
Lòng tiện soi dầu nhật nguyệt,
Thề xưa hổ có giang san.
Hai câu này ý là lòng của kẻ hèn cứ để trời trăng soi xét, lời thề xưa (có thể hiểu là lời thề trung hiếu) hổ thẹn với non sông. Đây là cách nói khiêm của tác giả.
Hai câu này gợi nhớ câu ca dao:
Con thỏ giỡn trăng sơn băng thủy kiệt,
Ai ở hai lòng nhật nguyệt xét soi.
“Sơn băng thuỷ kiệt” (山崩水竭) tức là sông cạn núi mòn. Câu ca dao này có thể dùng khi thề hẹn, kể cả thề hẹn lứa đôi.
Thuật hứng bài 21 kết thúc bằng hai câu:
Kìa nẻo Tô Tần ngày trước,
Chưa đeo tướng ấn có ai chào.
Câu này mượn điển Tô Tần, một thuyết khách thời Chiến Quốc, lúc chưa thành công thân thích không ai ngó ngàng, đến khi thành công thì được nể sợ, kẻ đón người đưa. Tình cảnh này gợi nhớ đến câu ca dao:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ trạng chín nghìn nhân duyên.
Một phiên bản khác là:
Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn,
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.
Thuật hứng bài 25 thì kết thúc bằng hai câu:
Thế sự dầu ai hay buộc bện,
Sen nào có bén trong lầm.
Thế sự dầu ai hay buộc bện ý nói chuyện ở đời nhiều người hay buộc bện, tức là gieo tiếng xấu, nói lời thị phi, quy kết, ràng buộc nhau. Chữ “lầm” trong câu Sen nào có bén trong lầm nghĩa là bùn. Ta hay nói “lầm than” (chữ Hán là “đồ thán 塗炭”) nghĩa là bùn và than, chỉ cảnh nhơ bẩn, cơ cực.
Hai câu này dễ dàng gợi nhớ đến bài ca dao về hoa sen, trong đó có hai câu:
Nhuỵ vàng bông trắng lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Phần 1 của loạt bài “Gặp” ca dao, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi xin khép lại ở đây. Chúng tôi sẽ tiếp tục biên Phần 2 trong thời gian tới.
___________
- Bản đầy đủ hơn cho bạn nào cần tìm hiểu thêm: (Luận ngữ – Vi chính) Tử viết: Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ. (《論語·為政》子曰:吾十有五而志於學,三十而立,四十而不惑,五十而知天命,六十而耳順,七十而從心所慾不踰矩。) ↩︎

