Một bài viết nhỏ về tiếng nói và chữ viết của người Việt
| On Th310,2026
(Ngày ngày viết chữ) Thỉnh thoảng, Ngày ngày viết chữ sẽ nhận được câu hỏi kiểu này: Trước khi có chữ Quốc ngữ thì người Việt mình nói tiếng gì?
Câu hỏi này, sẽ có người trả lời được ngay rằng: Nói tiếng Việt chứ nói tiếng gì! Song, khi đặt một câu hỏi như thế, người hỏi nhiều khả năng là đang bị nhập nhằng giữa hai khái niệm “tiếng” và “chữ”.
Vậy nên, đây là một bài viết nhỏ, Ngày ngày viết chữ biên ra đây, để dành giải đáp cho những bạn đang bị nhập nhằng như thế.
Để cho dễ tiếp cận, trước tiên ta nói về chữ viết:
Về cơ bản, người Việt từng sử dụng ba loại chữ viết để viết tiếng Việt. Một là chữ Hán, hai là chữ Nôm, ba là chữ Quốc ngữ La-tinh.
Chúng ta hãy lấy một câu trong Chinh phụ ngâm khúc làm ví dụ:
(1) 君穿壯服紅如霞。
(1’) Quân xuyên trang phục hồng như hà.
(2) 襖払𬦄似𩅜坡。
(2’) Áo chàng đỏ tựa ráng pha.
Trong 4 câu trên, câu (1) là chữ Hán, câu (2) là chữ Nôm, câu (1’) và (2’) là chữ Quốc ngữ La-tinh. Song, tất thảy 4 câu đều là chữ viết của tiếng Việt, câu (1’) và (2’) lần lượt là cách đọc của câu (1) và câu (2).
Bây giờ, hãy nói về tiếng nói:
Về nguồn gốc, tiếng Việt thuộc Ngữ hệ Nam Á (Austroasiatic), ngành Môn – Khmer nằm trong khối Việt – Katu, tiểu chi Việt – Chứt, nhóm Việt – Mường (theo Nguyễn Tài Cẩn, Giáo trình ngữ âm học lịch sử, 1995). Trước khi có “diện mạo” như bây giờ, tiếng Việt đã trải qua nhiều giai đoạn. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau trong cách phân kỳ, song nhìn chung có thể chia các giai đoạn phát triển tiếng Việt thành: tiền Việt – Mường (~ đến đầu công nguyên), Việt – Mường cổ (thế kỷ I – VIII, IX), Việt – Mường chung (thế kỷ X – XIV), Việt cổ (thế kỷ XIV – XV), Việt trung cổ (thế kỷ XV/XVI – nửa đầu thế kỷ XIX) và Việt hiện đại (nửa sau thế kỷ XIX đến nay).
Ở mỗi giai đoạn, cách người Việt phát âm và dùng từ sẽ có những khác biệt nhất định. Chẳng hạn, về đặc điểm ngữ âm, A. Haudricourt (Về nguồn gốc các thanh của tiếng Việt, 1954) đã chứng minh ở giai đoạn đầu tiếng Việt không có thanh điệu. Nói ngắn gọn thì thời kỳ đầu công nguyên tiếng Việt không có thanh điệu, đến thế kỷ VI có ba thanh, đến thế kỷ XII mới có đủ sáu thanh. Tiếng Việt cũng từng có tổ hợp phụ âm đầu, như các tổ hợp [bl-] trước đây tương đương với [tr] ngày nay, [kr-] trước đây tương đương với [s] ngày nay, [ml-] trước đây tương đương với [l] ngày nay, v.v.. Các dấu tích tổ hợp phụ âm đầu này có thể luận qua bản chữ Nôm của nhiều tác phẩm như Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Cư trần lạc đạo phú, Quốc âm thi tập, v.v.. Về từ vựng, tiếng Việt trước đây có nhiều từ mà nay ta đã xếp vào từ cổ, không còn dùng nữa, như chỉn (= chỉ), mảng (= nghe), mựa (= đừng, chớ), nhẫn (đến, tới), đòi (= nhiều), cóc (= biết), tua (= nên), ghín (= cẩn thận), v.v..1
Đọc đến đây nếu bạn thấy khó hiểu thì cũng không sao. Chúng ta cứ tạm hiểu rằng, tiếng Việt không phải là một khối nhất thành bất biến. Tiếng Việt mà chúng ta dùng bây giờ so với tiếng Việt mà ông cha từng dùng có rất nhiều điểm khác nhau.
Thế nhưng, mặc cho có nhiều khác biệt như thế, chung quy đó đều là tiếng Việt. Có đôi khi, chúng tôi được nghe ai đó nhận định là “trước khi có chữ Quốc ngữ thì người Việt nói tiếng Hán”. Nhận định này là một nhầm lẫn do chưa phân biệt được chữ viết và tiếng nói. Ngỡ rằng sự ra đời của chữ Quốc ngữ La-tinh mới là cái mốc để người Việt nói tiếng Việt.
| Chúng ta cần hiểu rằng, khi chưa có chữ viết, chúng ta nói tiếng Việt; khi có chữ Hán, chúng ta vẫn nói tiếng Việt (nhưng ghi chép lại tiếng nói ấy bằng chữ Hán2); khi có chữ Nôm, chúng ta vẫn nói tiếng Việt (nhưng ghi chép lại tiếng nói ấy bằng chữ Nôm (và vẫn dùng chữ Hán)) và khi có chữ Quốc ngữ La-tinh thì chúng ta vẫn nói tiếng Việt (nhưng ghi chép lại tiếng nói ấy bằng chữ Quốc ngữ La-tinh). Một cách khái quát thì ở bất cứ thời điểm nào trong lịch sử, người Việt vẫn luôn nói tiếng Việt, chỉ là công cụ để ghi chép lại tiếng nói ấy ở mỗi thời kỳ là khác nhau. |
Chúng ta hãy xem đoạn trích sau:
蓋聞:
仁義之舉,要在安民,
弔伐之師,莫先去暴。
惟,我大越之國,
實為文獻之邦。
山川之封域既殊,
南北之風俗亦異。
自趙丁李陳之肇造我國,
與漢唐宋元而各帝一方。
雖強弱時有不同
而豪傑世未常乏。
Đây là một đoạn trích trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi. Nếu nhìn vào đoạn trích này, người bị nhập nhằng giữa chữ viết và tiếng nói rất có thể sẽ ngộ nhận đoạn trích này là tiếng Hán. Nhưng mà, tuy viết bằng chữ Hán, đoạn trích này vẫn được đọc theo âm Hán Việt, như sau:
Cái văn:
Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.
Duy, ngã Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu, Đinh, Lý, Trần chi triệu tạo ngã quốc,
Dữ Hán, Đường, Tống, Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.
Chúng ta không đọc đoạn trích trên bằng tiếng Hán, mà đọc bằng một thứ âm gọi là âm Hán Việt. Người biết chữ Hán có thể dễ dàng hiểu đoạn trích này, cũng như hiểu toàn văn Bình Ngô đại cáo. Người không biết chữ Hán thì cần thêm một bước mà ta quen gọi là “dịch”, như dưới đây là bản dịch của Ngô Tất Tố:
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cỏi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.
Cái gọi là “dịch” này, cần hiểu không giống như ta dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, hay từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, mà thực chất thì cả bản gốc và bản dịch đều thuộc nội bộ tiếng Việt. Trong đó, bản gốc dùng chữ Hán với những quy tắc Hán văn còn bản dịch dùng chữ Quốc ngữ La-tinh đồng thời tuân theo (tương đối) nguyên tắc ngữ pháp tiếng Việt (hiện đại). Chúng ta cần nhìn nhận bản gốc – cũng như các tác phẩm chữ Hán, chữ Nôm khác của người Việt – là một bộ phận của tiếng Việt. Khác chăng là bộ phận đó tương đối đặc thù mà thôi.
Từng có lần, chúng tôi trao đổi với một bạn trẻ cũng là công việc liên quan đến chữ nghĩa, viết lách trong ngành quảng cáo. Bạn ấy bảo rằng trước đây, khi nghe các nhà nghiên cứu đề xuất dạy chữ Hán trong trường học, bạn ấy đã rất tức giận. Vì khi nghe đến chữ Hán, bạn ấy liền nghĩ đến tiếng Hán, mà tiếng Hán thì là tiếng của Trung Quốc, vân vân và vân vân. Sau này, khi được giải thích “chữ Hán” là một loại chữ viết người Việt dùng để viết một số nội dung tiếng Việt (dùng trong triều chính, sáng tác,…), bạn ấy mới thấy “muốn quay về quá khứ vả cho bản thân mấy cái”.
Có lẽ nhầm lẫn này, đối với người đã biết thì rất buồn cười, “sao có thể ngô nghê như vậy”. Song, đây lại là những nhầm lẫn hoàn toàn có thật và không hẳn là hiếm gặp. Cũng chính vì không hiếm gặp nên chúng tôi mới viết bài viết nhỏ này, cố gắng giữ cho nội dung thật giản dị, để bạn đọc chỉ cần kiên nhẫn là có thể hiểu được đại khái câu chuyện tiếng nói và chữ viết của người Việt.
___________

