Tích luỹ vốn từ để viết tiểu thuyết lịch sử qua ‘Hồ Quý Ly’ của Nguyễn Xuân Khánh (Phần 1)
| On Th122,2026
(Ngày ngày viết chữ) Một điểm khó trong sáng tác truyện, tiểu thuyết lịch sử hoặc lấy cảm hứng lịch sử là sử dụng từ ngữ phù hợp. Bài viết này sẽ giúp bạn tích luỹ thêm chút vốn từ để viết các thể loại ấy.
Ngày ngày viết chữ giới thiệu một số từ lịch sử, từ được sử dụng ở bối cảnh cung đình hoặc những từ có sắc thái cũ xưa trong tác phẩm Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, giúp các tác giả mới tích luỹ thêm vốn từ cho tác phẩm của mình.
| THÔNG TIN TÁC PHẨM: Tên sách: Hồ Quý Ly Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh Thể loại: Tiểu thuyết lịch sử Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam Quy cách: 684 trang, khổ 15,5 × 23,5 cm. Tác phẩm được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, 2027 |
Để tiện cho bạn đọc tham khảo, phần nội dung bên dưới được trình bày như sau:
• từ hoặc ngữ [chữ Hán nếu có]: giải nghĩa của Ngày ngày viết chữ.
Ví dụ là câu văn trong tác phẩm Hồ Quý Ly. (số trang trong sách)
Dưới đây là nội dung Phần 1. Phần 2 sẽ cập nhật trong một vài tuần tới, mời quý bạn đọc đón theo dõi.
• lân tình [憐情]: lân (cũng nói là liên) là thương, như đồng bệnh tương lân là những người cùng hoàn cảnh éo le thì thường thương lấy nhau, dễ cảm thông với nhau. Lân tình là tình thương mến nhau, như lòng trắc ẩn.
Chỉ có thế thôi, tôi chẳng hề bộc lộ sự lân tình ấy với đức thượng hoàng. (49)
• kiệm ước [儉約]: dè sẻn, tiết kiệm.
Thần xin được tổ chức đám cưới cho con trai lớn của thần thật kiệm ước. (53)
• lân tài [憐才]: thương mến vì tài năng, cũng chỉ lòng thương xót người giỏi mà không gặp vận may.
Đó là sự lân tài của những người vốn có tài năng lớn. (66)
• thoán nghịch [攛逆]: thoán là xúi giục, nghịch là làm phản. Thoán nghịch là dẫn dụ người làm phản để đoạt ngôi vua, thường hiểu là hành động làm phản để đoạt ngôi.
(…) bảo là nỗi cô đơn của kẻ thoán nghịch cũng được… bảo là nỗi cô đơn của kẻ làm một việc lớn cũng được… (84)
• khuông phò [匡扶]: khuông là giúp đỡ, phò cũng là giúp đỡ, nâng đỡ. Chữ 扶 âm Hán Việt là phù (phù tá, phù trợ) nhưng ta quen dùng âm Nôm hoá là phò (phò tá, phò trợ). Khuông phò nghĩa chung là giúp đỡ, thường dùng để chỉ giúp đỡ, phục vụ vua, phụng sự triều đình.
Ông ta khóc, nắm tay cha và dặn dò hãy khuông phò ấu chúa… (85)
• tao loạn [騷亂]: tao là quấy nhiễu, loạn là rối rắm, lộn xộn. Tao loạn chỉ tình cảnh xã hội rối ren như có chiến tranh hoặc triều đình suy vi, dân chúng không được yên, gần nghĩa với loạn lạc, loạn ly.
Phải chăng nỗi buồn của một thời tao loạn. (87)
• phủ dụ [撫誘]: phủ là vỗ về, vuốt ve, dụ là dỗ dành, dẫn dụ. Phủ dụ nghĩa chung là vỗ về, khuyên nhủ, thường dùng cho người trên đối với người dưới.
Các tướng lĩnh liền tung hô vạn tuế, làm kiệu bằng tay, rước Trần Phủ xuống núi phủ dụ quân sĩ. (95)
• xiểm nịnh: ton hót, nịnh nọt, hòng làm hại người, mưu lợi cho bản thân.
Chu Văn An dạy học ở núi Chí Linh, nghe tin đảng giặc đã tan, bọn gian thần xiểm nịnh đều đã chết cả và Thăng Long nô nức đón vua mới Nghệ Tông, ông thầy già đang ốm cũng khoẻ hẳn lại. (102)
• manh lệ [氓隸]: chỉ dân đen, dân hèn.
Ruộng đất nhà chúa, nếu ta gom lại cũng đủ nuôi hàng chục vạn người nghèo đó manh lệ. (105)
[…] còn cái bãi nổi trên sông nay đã trở thành một hòn đảo hoang đầy lau lách, làm nơi trú ngụ cho lũ chồn cáo và nơi trốn lủi cho đám dân manh lệ, sa cơ lỡ bước… (538)
• trung hưng [中興]: đã suy rồi thịnh trở lại.
• công nghiệp [功業]: công lao và sự nghiệp, chỉ thành tích, thành tựu của một người, một gia đình hay dòng họ, hoặc một triều đại.
Mong các bậc tiên vương hãy phù hộ cho con cháu, để trung hưng lại công nghiệp hiển hách của cha ông. (130)
Còn phải ở lại mà chịu hết cái công nghiệp mà toàn thể dòng họ nhà Trần của ông đã để lại cho ông. (579)
• hoà lạc âu ca [和樂謳歌]: hoà lạc là vui vẻ đầm ấm chan hoà, âu ca là hát ca, chỉ việc hát để ca ngợi nhà vua, để mừng thái bình thịnh trị. Hoà lạc âu ca nói chung chỉ đời thái bình no ấm.
Thời trẻ, ông đã từng tận mắt được thấy cảnh thời thịnh trị, thóc lúa đầy bồ, dân gian hoà lạc âu ca. (138)
Tiếng âu ca phải được vang lên khắp nơi. (623)
• tham bác [參博]: tham khảo nhiều nguồn, cho hiểu biết được rộng và đầy đủ.
Ông Luận đã tham bác các sách bàn về việc lễ, làm một tờ sớ. (145)
• ưu thời mẫn thế [憂時憫世]: ưu là lo âu, lo lắng, mẫn là xót thương, lo buồn. Ưu thời mẫn thế là lo lắng, xót thương cho đời lúc bấy giờ.
Phủ quân tướng công vốn ưu thời mẫn thế. (149)
• lịch duyệt [歴閲]: đi nhiều, trải nhiều, chỉ người từng trải, dồi dào kinh nghiệm.
Sự lịch duyệt trải đời các ông phỏng có bao nhiêu? (155)
• lam sơn chướng khí [嵐瘴]: hơi độc trên núi, thường gây bệnh, cũng nói lam chướng.
Quan quân ta bị chết vì lam sơn chướng khí trong việc tải lương này rất nhiều. (157)
• (lòng) trung liệt [忠烈]: có tinh thần trung nghĩa, dũng cảm, dám hy sinh để báo quốc.
• quốc tính [國姓]: họ của vua. Xưa người lập công lao hiển hách sẽ được ban họ của vua, xem như một sự ghi nhận sâu sắc.
Khi phá quân Nguyên, Bình Trọng Sa vào tay giặc đã không hàng, đức vua Trần Nhân Trong đánh giá cao lòng trung liệt đó nên đã ban cho quốc tính. (181)
• (kế) thanh dã [清野]: dọn sạch nhà cửa, cây cối, hoa màu mọi thứ khỏi vùng chiến sự để tuyệt đường lương thực của quân giặc, ta quen gọi là kế vườn không nhà trống.
Vả lại, ta còn làm kế thanh dã, vườn không nhà trống, hỏi giặc lấy lương thực đâu mà ăn. (213)
• thủ cựu và canh tân [守舊 và 更新]: thủ cựu là giữ lấy cái cũ, không chịu theo cái mới còn canh tân là đổi mới, bỏ cũ theo mới.
Ông xuất hiện trong hoàn cảnh đụng đầu lịch sử giữa hai pháo tôn thất thủ cựu và canh tân đang quyết liệt nhất. (247)
• (ơn) tri ngộ [知遇]: biết rõ, hiểu rõ ai đó và đối xử tốt với họ, giúp đỡ họ (và sự giúp đỡ đó có ý nghĩa lớn lao đối với họ).
Có lẽ ông còn cảm tình, vì ơn tri ngộ; chính cha tôi đã giới thiệu ông với Nghệ hoàng. (252)
• mẫn tiệp [敏捷]: nhanh nhẹn, linh hoạt, ứng biến nhanh.
Bá quan đều tròn mắt, phục tài ứng đối mẫn tiệp của cha tôi. (276)
• trù biện [籌辦]: trù là tính toán trước, biện là lo liệu, chuẩn bị sẵn. Trù biện là lo liệu, tính toán công việc trước khi làm.
Có thể, từ khi chúng tôi còn nhỏ, cha đã lặng lẽ quan sát hai đứa con, rồi cân nhắc mọi điều lợi hại, để trù biện cho tương lai, nhưng thôi, đó chuyện về sau… (279)
• thiên tuý [天醉]: Từ câu “Thiên đế tuý Tần bạo” 天帝醉秦暴 Thiên đế say rượu Tần bạo ngược trong Tây Kinh Khúc của Trương Hành. Người đời sau dùng thiên tuý để ẩn dụ cho tình trạng hỗn loạn xã hội hoặc sự bất tài về chính trị.
Hay do thời thế, không khí của một thời “thiên tuý” đã ảnh hưởng vào tính đa cảm của tôi? (280)
Ở thời thiên tuý giả hay thật quả là mù mờ hỗn độn. (399)
• khao vọng: nộp tiền và làm cỗ mời dân làng nhân dịp đỗ đạt hoặc thăng chức, đây là một tục lệ thời trước.
Các nhà quyền quý ở Thăng Long mỗi khi mở tiệc mừng nhân ngày lễ thọ, khao vọng hoặc cưới xin đều mời nàng đến hát. (284)
| Hồ Nguyên Trừng: – Tôi đã đọc xong cuốn Trần Sử của ông. Tôi đã đọc kỹ phần cuối là Minh Đạo luận. Tôi cứ suy đi tính lại, định bỏ phần đó, không đưa cho cha tôi. Nhưng rồi lại nghĩ: cuốn sách đó là cả đời tâm huyết của ông, nếu thiếu đoạn cuối cùng, cuốn sách sẽ khập khiễng, bất nhất. Và điều đó chắc ông chẳng bằng lòng… Sử Văn hoa tươi cười vái tạ: – Xin cảm ơn quan Kiểm pháp, cảm ơn người tri kỷ đầu tiên của tôi. Xin chớ áy náy. Quyển sách này là của tôi. Tôi xin chịu trách nhiệm đến từng chữ một. —— Trích Hồ Quý Ly (426). |
(Bài viết này vẫn còn Phần 2, Ngày ngày viết chữ sẽ cập nhật sau.)

